CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ NHẬP KHẨU 1. THUẾ NHẬP KHẨU 1. Khái niệm thuế nhập khẩu Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng và ý nghĩa thiết thực. Thuế NK không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, thuế là một công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu: Theo giáo trình Thuế của Học viện Tài chính: "Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam" [20]. Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [33]. Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế NK cũng như các quan niệm về thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm thuế NK như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu [21].
Đặc điểm của thuế nhập khẩu - Thuế NK mang tính quyền lực Nhà nước Chỉ có Nhà nước mới có thẩm quyền đặt ra thuế NK để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động NK hàng hoá và bảo hộ sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà Luan van 7 nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào. Việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi cá nhân và tổ chức phải tuân theo. -Thuế NK là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương Chính sách thuế gắn liền với chính sách phát triển của một quốc gia.
Xây dựng một chính sách thuế nhập khẩu tích cực, hợp lý sẽ kích thích hoạt động giao thương trong quá trình hội nhập thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa NK. - Thuế thuế NK là một loại thuế gián thu Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên một phần giá trị mới nằm trong giá cả hàng hoá trao đổi qua biên giới một nước. Thuế NK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá NK, người nộp thuế là người thực hiện hoạt động NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá NK đó. Nhà nước thu thuế NK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hoá NK.
- Thuế NK chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế Những yếu tố này sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa NK của các quốc gia. Ngoài ra, thuế chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội. Điều này được thể hiện ở chỗ thuế NK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ. Vai trò của thuế nhập khẩu - Thuế nhập khẩu là nguồn thu lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước Thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và vai trò bảo hộ nền sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu NSNN.
Thu thuế hàng hóa nhập khẩu ở mức cao vừa Luan van 8 bảo hộ sản xuất trong nước vừa góp phần làm tăng nguồn thu đáng kể cho NSNN. Ngược lại, khi thực hiện chính sách thuế nhập khẩu thấp, nhà nước khuyến khích tăng lượng hàng hóa nhập khẩu, điều này cũng góp phần tăng thu ngân sách qua việc tăng kim ngạch nhập khẩu và nguồn thu thuế nội địa khâu tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, mức thuế nhập khẩu tất yếu được cắt giảm, nhưng đồng thời sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng.
Thống kê dự toán thu NSNN Đơn vị tính: tỷ đồng Dự toán tổng thu Tỷ trọng thuế XNK Năm Số thu thuế XNK NSNN trong tổng thu NSNN 2009 389.500 20,40% Nguồn:Dự toán thu cân đối NSNN của Bộ Tài chính Tỷ trọng thuế nhập khẩu so với tổng nguồn thu Ngân sách Nhà nước có chiều hướng ổn định các năm và chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong tổng thu ngân sách, bình quân khoảng 20% trên tổng thu Ngân sách Nhà nước (thuế xuất khẩu không đáng kể). - Thuế nhập khẩu góp phần thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước. Bảo hộ là bảo vệ và trợ giúp các doanh nghiệp trong điều kiện cần thiết, là việc Nhà nước thông qua các chính sách để tạo ra môi trường, hành lang pháp lý thuận Luan van 9 lợi giúp các doanh nghiệp có điều kiện phát triển hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Trên thực tế, thuế nhập khẩu là một khoản chi phí nằm trong giá gốc của hàng hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Giá cả là phương tiện thực hiện cạnh tranh có hiệu quả cao. Giá hàng nhập khẩu cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào chính sách thuế nhập khẩu. - Kiểm soát hoạt động ngoại thương của đất nước Kiểm soát hoạt động ngoại thương là mục tiêu lớn của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hoá thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới. Thông qua việc kiểm tra thu thuế NK để biết được thực chất hàng hóa qua cửa khẩu như thế nào, số lượng bao nhiêu… thì nhà nước mới kiểm soát được hàng hóa trên thị trường.
Kết hợp với chính sách ngoại thương thích hợp, nhà nước cho phép NK hàng hóa nào, cấm NK hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời. - Thuế nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế, góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội Thuế nhập khẩu của Nhà nước là công cụ cần thiết khi Nhà nước tham gia ký kết các điều ước, điều khoản với các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Cam kết của Việt Nam với các nước đem lại những lợi thế cho doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá nhập khẩu và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Đồng thời, khi tham gia vào sân chơi chung của các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam phải thực hiện những cam kết về thu thuế nhập khẩu từ các quốc gia thành viên.
Vì vậy, thuế nhập khẩu là một công cụ để Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại với các quốc gia khác thông qua việc áp các mức thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt hoặc thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ. Đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế nhập khẩu a. Đối tượng nộp thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu. Tất cả các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu đều là đối tượng nộp thuế nhập khẩu.
Đối tượng nộp thuế NK bao gồm: - Chủ hàng hóa NK: Chủ hàng hóa NK là người có quyền sở hữu hàng hóa làm thủ tục NK. Chủ hàng hóa có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức có tư cách pháp nhân. Khi thực hiện nhập khẩu hàng hóa, chủ hàng hóa phải nộp thuế NK. - Tổ chức nhận ủy thác NK hàng hóa: trường hợp chủ hàng hóa không trực tiếp làm thủ tục NK hàng hóa mà ủy quyền cho một tổ chức khác thì tổ chức nhận ủy thác NK hàng hóa là đối tượng nộp thuế NK.
Đối tượng chịu thuế nhập khẩu: Tất cả hàng hoá và dịch vụ được phép nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa vào thị trường trong nước là đối tượng chịu thuế nhập khẩu, gồm: - Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam: hàng hoá nhập khẩu qua các cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thành lập theo qui định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Hàng hoá được đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. - Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được gọi là hàng hóa nhập khẩu 1. Căn cứ tính thuế nhập khẩu a.
Đối với hàng hoá áp dụng thuế suất theo tỷ lệ % Căn cứ tính thuế NK là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế NK ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế, thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%). Luan van 11 * Số lượng hàng hoá nhập khẩu Số lượng hàng hoá NK làm căn cứ tính thuế là số lượng từng mặt hàng thực tế NK. Số lượng này được xác định dựa vào tờ khai hải quan của các tổ chức, cá nhân có hàng hoá NK. * Giá tính thuế: Phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu hiện nay của Việt Nam được thực hiện theo Điều 7 Hiệp định chung thuế quan và thương mại (GATT), qui định chi tiết tại Nghị định 40/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với hàng NK, giá tính thuế là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 06 phương pháp xác định trị giá tính thuế và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế - Phương pháp 1 : Phương pháp xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo trị giá giao dịch. Trị giá giao dịch được xác định bằng tổng số tiền người mua thực tế đã thanh toán hay sẽ thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán để mua hàng hóa nhập khẩu. - Phương pháp 2&3 : Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch hàng hoá nhập khẩu giống hệt; hàng hóa nhập khẩu tương tự.