Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại chi cục Hải quan của khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn. 5 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 1.
Khái quát chung về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Sự cần thiết phải thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế là một khoản tiền do các cá nhân, tổ chức nộp cho nhà nƣớc để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu với nhà nƣớc trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu (TNK, TXK) là một loại thuế có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu trong tay nhà nƣớc để kiểm soát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, bảo hộ sản xuất trong nƣớc và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của chính phủ trong từng thời kỳ.
Ngày nay, cho dù xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bƣớc ảnh hƣởng đến tình trạng TXK, TNK theo hƣớng hạn chế vai trò của loại thuế này, tuy nhiên về cơ bản, TXK, TNK vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nƣớc, nhất là đối với quốc gia đang trong quá trình từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trƣờng nhƣ Việt Nam hiện nay [31]. TXK, TNK là công cụ rất quan trọng để nhà nƣớc thực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK); mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động XK, NK. Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc mà thuế quan đƣợc sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau, nên sự cần thiết phải đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đƣợc thể hiện ở các khía cạnh sau: 6 z Thứ nhất, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nƣớc (NSNN). Mục tiêu chung của các quốc gia là sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (TXK, TNK) để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc.
Ðồng thời thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế dễ thu nhất, ít bị phản ứng từ phía các DN, cá nhân có thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam tham gia kí kết các hiệp định về cắt giảm thuế quan thì TXK, TNK cũng bị giảm dần theo lộ trình cắt giảm thuế quan. Điều này cũng làm giảm nguồn thu cho NSNN. Thứ hai, thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà nƣớc điều tiết việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK) và hƣớng dẫn tiêu dùng; bởi vì lƣợng hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trƣờng. Hơn nữa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng hoá không đƣợc khuyến khích sử dụng nhƣ thuốc lá, rƣợu, bia. Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc: việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nƣớc có thể cạnh tranh đƣợc với hàng hoá nhập khẩu.
Ðặc biệt thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong nƣớc có thời gian “trƣởng thành” và sinh lời để từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì việc đánh thuế nhập khẩu cao thì hàng hoá nhập khẩu sẽ giảm; để bù vào lƣợng hàng hoá nhập khẩu đó nhà nƣớc ta phải mở rộng đầu tƣ, phát triển sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động từ đó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong nƣớc. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế tƣơng đối đặc trƣng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gắn liền với hoạt động ngoại thƣơng và trở thành những một trong những công cụ, những nhân tố cấu thành nên chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nƣớc.
Cho đến nay, khái niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chƣa đƣợc quy định tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam từ khi luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch 1987 ra đời, sau đó Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 đƣợc ban hành và sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993,1998, 2005 và đến nay Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 đƣợc ban hành cũng không đƣa ra định nghĩa nào về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà cũng chỉ quy định đối tƣợng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cụ thể tại Điều 2 bao gồm: 1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; 2. Hàng hóa xuất khẩu từ thị trƣờng trong nƣớc vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trƣờng trong nƣớc; 3. Hàng hóa xuất khẩ u , nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuấ t khẩ u, nhâ ̣p khẩ u của doanh nghiệp thực hiện quyền xuấ t khẩ u, quyề n nhập khẩu, quyền phân phối [25, Điều 2].
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận. Xét về phƣơng diện kinh tế, thuế XK, thuế NK đƣợc quan niệm là khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi XK, NK hàng hóa qua biên giới một nƣớc. Với các tiếp cận này, thuế XK, thuế NK đƣợc quan niệm nhƣ là một quan hệ 8 z phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với ngƣời thu thuế là Nhà nƣớc. Hơn nữa, thuế XK,NK còn có thể đƣợc hiểu nhƣ là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nƣớc điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu [31, tr.
Dƣới góc độ pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu đƣợc ghi nhận trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành, đƣợc tổ chức thu bởi cơ quan Hải quan và đƣợc đảm bảo cƣỡng chế thực hiện [18, tr. Theo từ điển luật học thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do hải quan của một nƣớc thu đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu khi vận chuyển qua cửa khẩu của nƣớc đó [20, tr. Từ những nghiên cứu và quan niệm trên về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ta có thể hiểu khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhƣ sau: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có những thuộc tính tƣơng đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển, và cũng mang đặc điểm của thuế nói chung: Tính bắt buộc: tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình động viên tài chính khác của NSNN.
Phân phối mang tính chất bắt buộc dƣới hình thức thuế là một phƣơng thức phân phối của nhà nƣớc, theo đó một bộ phân thu nhập của ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao cho nhà nƣớc mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những 9 z quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của ngƣời công dân hoặc doanh nghiệp, các tổ chức khác trong nền kinh tế. Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp: tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế đƣợc thể hiện ở chỗ: thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp cho ngƣời nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nƣớc. Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao: đƣợc quyết định bởi cơ quan quyền lực chính trị của nhà nƣớc và đƣợc thể hiện bằng pháp luật. Bên cạnh những đặc điểm chung đó thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng mang những đặc điểm riêng nhất định: Một là, TXK, TNK là loại thuế đánh vào hàng hóa đƣợc phép vận chuyển qua biên giới.
Cụ thể là TXK đánh vào hàng hóa sản xuất trong nƣớc đƣa ra nƣớc ngoài, còn TNK là thuế đánh vào hàng hóa đƣơc phép vận chuyển qua biên giới từ nƣớc ngoài vào nội địa hoặc là từ khu phi quan thuế nằm trong lãnh thổ quốc gia vào thị trƣờng nội địa. Đối tƣợng XK,NK là hàng hóa tiêu dùng hoặc tƣ liệu sản xuất. Hai là, chủ thể XK và NK hàng hóa có thể nhằm mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh. Tùy thuộc vào mục đích XK, NK mà có sự phân biệt chủ thể nộp thuế và chủ thể chịu thuế.
Đối với cá nhân trực tiếp nhập khẩu cho tiêu dùng thì cá nhân vừa là ngƣời nộp thuế, vừa là ngƣời chịu thuế, đối với các cá nhân doanh nghiệp NK nhằm mục đích kinh doanh thì cá nhân, doanh nghiệp đó là ngƣời nộp thuế, còn ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng.