mở đầu của buôn bán trao đổi quốc tế và là bộ phận quan trọng của hoạt động ngoại thương của mỗi nước. Thương mại qua biên giới bao gồm: Các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa và các dịch vụ qua biên giới, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của cư dân biên giới, 7 z trao đổi hàng hóa, dịch vụ ở chợ biên giới, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong khu kinh tế cửa khẩu. Ở đây chỉ tập trung nghiên cứu về biên giới đất liền. Khu vực biên giới đất liền (khu vực biên giới) là bao gồm các xã, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền với nước láng giềng (được quy định tại Nghị định 34/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền).
Phát sinh và phát triển thương mại qua biên giới là hiện tượng tự nhiên của lịch sử, là hiện tượng khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, con người vận dụng nó để sắp xếp tổ chức các hoạt động quan hệ thương mại qua biên giới nhằm phục vụ lợi ích chung của xã hội. Các hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở khu vực biên giới đều được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước ban hành riêng cho hoạt động thương mại qua biên giới 1. Lý thuyết về thƣơng mại quốc tế * Lý thuyết cổ điển Chủ nghĩa trọng thương: Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương coi vàng và các kim loại quý là đại biểu cho sự giàu có của các quốc gia. Để có sự giàu có này các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau các sản phẩm đặc thù của mình.
Lợi nhuận buôn bán là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lường gạt giữa các quốc gia. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Các quốc gia sẽ thu được lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó. Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng giống nhau. Quốc gia thứ nhất có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá X quốc gia thứ hai có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá Y so sánh với quốc gia thứ nhất.
Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi thì cả hai quốc gia cùng có lợi. 8 z Lý thuyết về lợi thế tương đối của David Ricado: Nếu một quốc gia bất lợi trong việc sản xuất các mặt hàng thì có thể tham gia vào thương mại quốc tế nếu biết lựa chọn mặt hàng thích hợp có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh là lợi thế đạt được của một quốc gia nếu quốc gia đó chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn so với quốc gia khác về cùng mặt hàng đó và nhập khẩu những mặt hàng có tính chất ngược lại. Nếu quốc gia nào có hiệu quả thấp trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất, nhập khẩu hàng hoá bất lợi nhất.
Lý thuyết Heksher-Ohlin về lợi thế tương đối: Một quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn, đồng thời nhập khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó, điều này có nghĩa là một nước tương đối giầu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn và ngược lại. * Lý thuyết hiện đại Lý thuyết về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm: Lý thuyết này giải thích nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tế thông qua các giai đoạn chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm. Khi sản phẩm ở vào giai đoạn suy giảm, triệt tiêu trên vòng đời của nó thì nó được bán ra nước ngoài để kéo dài vòng đời đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây chính là nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tế.
Lý thuyết về đầu tư: Hoạt động đầu tư quốc tế là nền tảng cho hoạt động thương mại bởi vì đầu tư cho phép khai thác lợi thế đầy đủ và triệt để hơn, bao gồm: Nguồn lực, công nghệ, thị trường, uy tín, danh tiếng, nhãn hiệu, kinh nghiệm quản lý để thu lợi ích từ thị trường nước ngoài và vượt qua các hàng rào thuế quan. Do đó có thể nói đầu tư quốc tế là sự thay thế tốt hơn cho thương mại quốc tế. Đặc trƣng của quan hệ thƣơng mại qua biên giới - Khu vực biên giới của hai nước đều cách xa trung tâm kinh tế - chính trị nước mình, có nhiều khu hành chính phân cách, bất lợi cho vị trí kinh tế và cũng trở ngại cho sự phát triển kinh tế khu vực biên giới. Như vậy, quá trình phát triển kinh tế khu vực biên giới không có điều kiện và cơ hội thuận lợi, vì vậy cần được hưởng các chính sách ưu đãi để phát triển quan hệ thương mại qua đường biên, tạo cơ hội cho kinh tế khu vực biên giới phát triển.
- Khu vực biên giới các nước có hoàn cảnh văn hóa, xã hội và tương tự nhau, nhân dân biên giới hai nước có ngôn ngữ văn hóa, tập quán sinh sống, truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng gần giống nhau hoặc tương tự nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mặc dù cư dân biên giới hai nước chịu sự tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng trên thực tế họ đã có mối quan hệ giao lưu trong lịch sử lâu đời, với tiềm thức trong anh có tôi, trong tôi có anh, cùng nhau tồn tại, hỗ trợ lẫn nhau. - Tính khác biệt về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới với các nước láng giềng quyết định tính đa dạng, mô thức phát triển từng khu vực có tính đặc thù, đây là một động lực kinh tế, thúc đẩy xu hướng dựa vào nhau, bổ sung cho nhau để phát triển ở khu vực biên giới. - Khu vực biên giới là phần đất liền giữa hai quốc gia.
Nhu cầu khác nhau giữa các địa phương, giữa các nước láng giềng được phản ánh trực tiếp ở khu vực biên giới. Căn cứ vào nhu cầu thị trường nước láng giềng để sản xuất, cũng như tổ chức các nguồn hàng nội địa nhằm phát triển quan hệ thương mại. Như vậy sẽ làm cho khu vực biên giới phát triển mối quan hệ trong ngoài, đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu nhất cho địa phương. Chúng ta có thể nhận thấy ưu thế địa phương là ưu thế khu vực giữa hai nước láng giềng.
Chính ưu thế địa phương là điều kiện đầu tiên để mở cửa, nếu không có môi trường thuận lợi để mở cửa 10 z thì cũng sẽ không tạo được lợi thế tại khu vực biên giới. Khu vực biên giới không được mở cửa thì những điều kiện thuận lợi của khu vực không được chuyển hóa thành động lực cho sự phát triển kinh tế của hai bên. Nếu được mở cửa thì những điều kiện địa phương được chuyển hóa thành ưu thế khu vực, tạo không gian cho thị trường mang tính quốc tế. Điều đó tạo điều kiện khai thác các ưu thế địa phương khác hướng đến thực hiện hoạt động trao đổi buôn bán.
- Quan hệ thương mại qua biên giới có tính chất bổ sung: + Những yếu tố sản xuất về sức lao động, tài nguyên, vốn, kỹ thuật giữa hai nước láng giềng đều có ưu thế thể hiện ở mỗi mặt, thông qua hoạt động trao đổi, buôn bán thực hiện lợi ích của mỗi mặt đó. + Tính bổ sung ưu thế cho nhau: Là yếu tố chủ yếu làm cho quan hệ thương mại qua biên giới phát triển. - Quan hệ thương mại qua biên giới là quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế quốc gia có chủ quyền trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Đó là nguyên tắc cơ bản và là tiền để phát triển quan hệ thương mại qua biên giới.
- Trong quá trình thực hiện quan hệ thương mại qua biên giới, ngoài trao đổi hàng hóa ra còn tạo điều kiện để trao đổi các yếu tố sản xuất như sức lao động, tư bản kỹ thuật. - Trong quan hệ thương mại qua biên giới, mặc dù phải tuân thủ nguyên tắc hai bên cùng có lợi, nhưng đây là hợp tác và cạnh tranh giữa hai bên hoặc nhiều bên, trong hợp tác có cạnh tranh, trong cạnh tranh có hợp tác. Hợp tác và cạnh tranh tồn tại song song là đặc trưng chủ yếu trong thương mại quốc tế, đồng thời cũng là đặc trưng cơ bản của thương mại qua biên giới. 11 z Rõ ràng quan hệ thương mại qua biên giới vừa mang tính chất chung của thương mại quốc tế, và nó còn có đặc trưng khác so với thương mại quốc tế.
Quan hệ thương mại qua biên giới là hình thức đặc thù của thương mại quốc tế. Hình thức của quan hệ thƣơng mại qua biên giới Có hai hình thức thương mại qua biên giới: Thứ nhất, thương mại tiểu ngạch biên giới (thường gọi là chợ biên giới), chỉ thực hiện trong một phạm vi nhất định tại khu vực nối liền giữa hai nước, là phương tiện để phát triển đời sống của cư dân hai bên biên giới. Cư dân hai bên biên giới chỉ hoạt động ở thị trường đã chỉ định và địa điểm mở cửa mà Nhà nước quy định, không được mua bán, giao lưu hàng hóa vượt quá hạn ngạch đã quy định. Hai bên tiến hành hoạt động thương mại tiểu ngạch nói chung đều hưởng ưu đãi về miễn giảm thuế và đơn giản hóa thủ tục hải quan.
Hoạt động trao đổi, buôn bán qua biên giới ở khu vực biên giới của mỗi nước đều được Chính phủ nước đó duyệt và có phê quy chế riêng. Thứ hai, địa phương khu vực biên giới hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa ở nơi nối liền giữa hai nước đã được Chính phủ phê chuẩn. Doanh nghiệp địa phương được chỉ định tiến hành các hoạt động thương mại ở khu vực biên giới, hàng hóa được sản xuất tại khu vực được trao đổi tại nơi nối liền hai nước.