Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO HÀ NAM THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh, nơi có nhiều sông ngòi với những bãi biển mênh mông, sú vẹt bạt ngàn. Sông Chanh là một nhánh lớn của sông Bạch Đằng nằm trên tuyến đường giao thông ven biển nối cảng Hải Phòng với khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả và chia Quảng Yên thành hai vùng đất: Hà Bắc và Hà Nam. Đảo Hà Nam nằm ở phía nam sông Chanh, đối diện là khu Hà Bắc, tên gọi “Hà Nam” cũng xuất phát từ vị trí đó.
Hà Nam, nằm trong địa phận thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Do có địa hình bốn bề là nước nên Hà Nam được gọi là đảo. Đảo Hà Nam có tọa độ địa lý 20°54′30″ Bắc và 106°49′39″ Đông. Phía Bắc giáp Sông Chanh, phía Tây và phía Nam của đảo lần lượt giáp huyện Thuỷ Nguyên và huyện Cát Hải của thành phố Hải Phòng, phía Đông giáp phường Hà An và thị trấn Quảng Yên.
Hà Nam là nơi có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của thị xã, nơi có nhiều tiềm lực để phát triển kinh tế ven biển kết nối giao thương giữa Quảng Ninh với Hải Phòng. Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hà Nam nằm trong dải hành lang ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng, đây là một trong những cửa mở ra biển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Do vị trí địa lý nằm gần với hai thành phố Hạ Long – Hải Phòng, gần các tuyến hàng hải quốc tế Hải Phòng, Quảng Ninh đi quốc tế, với hệ thống đường bộ thông sang khu Hà Bắc qua cầu sông Chanh, có quốc lộ 18 đi qua khu vực thị xã…Hà Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu thương mại với Hạ Long, Hải Phòng, và ra quốc tế, tạo thành trục kinh tế ven biển Hải Phòng – Hà Nam – Hạ Long. Đặc biệt, hiện nay Hà Nam còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, đền, chùa…nên có nhiều khả năng kết hợp với khu vực Hạ Long phát triển du lịch nghỉ mát ven biển và du lịch tâm linh.
8 Hà Nam là một vùng đảo được hình thành từ thế kỷ XV do quá trình quai đê lấn biển mà thành, cả đảo được bao bọc bởi hệ thống đê dài 34 km, cao trình 5,5m. Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nam là: 125,9 km2 chiếm 40% diện tích tự nhiên của thị xã. Phía trong đê địa hình tương đối bằng phẳng nhưng do không được cung cấp nhiều bồi tích nữa nên ngày càng thấp hơn phía ngoài đê. Đất đai phía trong đê chủ yếu được bồi tích do phù sa sông, song lại chịu ảnh hưởng của biển nên đất chua mặn là chủ yếu, thích hợp phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản.
Phía ngoài đê là vùng bãi triều lúc cạn lúc ngập, đã và đang được khoanh bao để nuôi trồng hải sản. Về thủy văn, có sông Bạch Đằng, sông Chanh, sông Nam và sông Hốt thuận lợi cho phát triển vận tải đường thủy và khai thác nuôi trồng thủy sản nhưng ít phù hợp với sản xuất nông nghiệp do nước bị nhiễm mặn. Nước ngầm phong phú, mạch nước ngầm nằm ở độ sâu từ 5-6m, nhưng nhiều nơi trong khu vực Hà Nam nước ngầm bị nhiễm mặn nên ít sử dụng được. Do nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn nên nước sinh hoạt và sản xuất chủ yếu được cung cấp từ công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thủy lợi Yên Lập.
Đây là hồ nước ngọt lớn nhất của tỉnh có dung lượng thường xuyên là 127,5 triệu m3, cung cấp nước qua 28,4 km kênh chính dẫn nước đến hầu hết các xã trên đảo. Bờ biển khu vực Hà Nam nằm trong Vịnh Hạ Long có đặc điểm tích tụ sông biển, có nhiều cửa sông, đáy biển nông thoải, nhiều bồi tích bở rời, độ nghiêng nhỏ, nằm trong vịnh tương đối kín, được che chắn sóng bởi một số đảo nhỏ, tạo điều kiện cho sự lắng đọng phù sa và phát triển bãi bồi ven biển. Thủy triều mang tính chất nhật triều, mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống. Ngoài ra ở khu vực này còn có gần 2 nghìn ha rừng ngập mặn, có vai trò quan trọng trong việc chống xói mòn và bảo vệ đất.
Hà Nam có đặc trưng khí hậu của miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Nhưng do nằm ven biển nên khí hậu ôn hòa hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và du lịch. Nhiệt độ không khí trung bình năm từ 23 – 24oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12 và tháng 9 1 là 5oC, nhiệt độ tối cao đạt 37,9 oC. Số giờ nắng dồi dào trung bình từ 1700- 1800 h/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 12.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2000mm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 88% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí khá cao: 81%. Thời tiết ở Hà Nam chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10) nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông (từ tháng 4 đến tháng 11) lạnh và khô. Hàng năm có từ 3 – 5 cơn bão đổ bộ và khu vực này, tốc độ gió từ 20- 40m/s và thường kéo theo mưa lớn, lượng mưa từ 100-200mm, có nơi đạt 500mm.
Những trận bão này gây khó khăn và thiệt hại không nhỏ cho cư dân nơi đây, đặc biệt là khi bão vào đúng dịp triều cường, gây vỡ đê, toàn bộ cư dân trên đảo phải sơ tán. Trong lịch sử, Hà Nam đã phải hứng chịu nhiều trận bão lớn, gây thiệt hại nặng nề như trận bão năm 1955, 1989. Những điều kiện về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thủy văn cho thấy Hà Nam là một khu đất thấp nằm ở phía nam thị xã Quảng Yên, có vị trí quan trọng, đóng vai trò là cánh cửa mở ra biển, không gian phát triển chủ yếu các ngành kinh tế thế mạnh là dịch vụ vận chuyển và cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuyền, đồng thời là vùng sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản của thị xã. Lịch sử hình thành, diên cách dựng đặt Quảng Yên (trước năm 2011 là huyện Yên Hưng) có lịch sử lâu đời.
Từ cuối thời đại đồ đá mới, cách đây khoảng gần một vạn năm, đã có con người sinh sống ở Yên Hưng. Những hiện vật khảo cổ tìm thấy ở di chỉ Hoàng Tân thuộc nền văn hoá Hạ Long, đã chứng minh điều đó. Từ đầu Công nguyên, Yên Hưng nằm ở vùng đất thuộc quận Giao Chỉ; thời Bắc thuộc gọi là quận Hải Ninh, là châu Ninh Việt, châu Ngọc Sơn… Triều Đinh (thế kỷ X) vùng đất này được đặt là trấn Triều Dương (Trào Dương); Triều Lý (từ thế kỷ XI) đổi là châu Vĩnh An; triều Trần (từ thế kỷ XIII) thuộc về lộ Hải Đông; triều Lê (từ thế kỷ XV) gọi là Yên Bang (An Bang); triều Nguyễn (từ thế kỷ XIX) lấy một phủ Hải Đông làm trấn Yên Quảng (dời trấn lỵ đến Quỳnh Lâu - Yên Hưng, tức là 10 huyện lỵ ngày nay). Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), trấn Yên Quảng đổi là trấn Quảng Yên; năm thứ 12 (1831) đổi thành tỉnh Quảng Yên.
Tháng 2-1955, khu Hồng Quảng (bao gồm tỉnh Quảng Yên và khu Hòn Gai) được lập, Yên Hưng là một huyện của khu Hồng Quảng; từ tháng 10-1963, là một huyện của tỉnh Quảng Ninh. Đảo Hà Nam là vùng có địa hình đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Thái Bình. Hà Nam trước kia là một vùng đất bãi triều âm u, dưới rừng sú vẹt, trên cửa sông Bạch Đằng, thuộc trấn An Bang, phủ Hải Đông. Vùng đất này là cả một pho truyền tích về một thời lấn biển, khai hoang của những cư dân Thăng Long đầu thế kỷ XV.
Vào đời vua Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình (1434) đến thời vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504), có nhiều nhóm dân cư ở kinh thành Thăng Long và vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình đến vùng đất này quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai lập làng, tạo nên khu đảo Hà Nam trù phú như ngày nay. Những người có công đầu tiên mở đất lập làng được nhân dân trong vùng gọi là “Tiên công”. Các nhóm Tiên công khai khẩn Hà Nam năm 1434 theo 2 phương thức: khai canh tập thể, tức là nhiều gia đình hợp lại cùng quai đê lấn biển lập làng, ruộng đất chia đều cho từng suất đinh tham gia khai khẩn, không có ruộng đất tư cho các Tiên công, 3 năm đổ chương chia lại ruộng đất; khai canh theo kiểu thủ lĩnh, tức là các Tiên công chiêu mộ mọi người, chỉ huy họ quai đê lấn biển lập làng. Đất khai canh được chia đều cho những người tham gia, các Tiên công được vua cấp đất tư.
Hình thức khai canh theo phương thức tập thể: được thực hiện bởi 17 vị Tiên công, là người cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phường Kim Liên), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long. Họ là những người lao động, những kẻ sĩ, sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và đánh cá ven hồ, ven sông Kim Ngưu ở Thăng Long. Về lý do di cư lập nghiệp từ Thăng Long về vùng đảo Hà Nam, Quảng Ninh là do hưởng ứng lời kêu gọi quai đê lấn biển, khai canh lập ấp của vua Lê Thái Tông ; Cũng có tài liệu lại 11 cho biết : theo gia phả họ Nguyễn Thực, Nguyễn Nghệ (là gia phả sớm nhất ở xã Yên Hải viết lại vào thời Cảnh Hưng (1740-1786)) thì năm 1434, để xây dựng đất nước, vua Lê Thái Tông (1434-1442) tiếp tục mở rộng kinh thành Thăng Long, hạ chiếu khuyến dân dời đi chỗ khác làm ăn sinh sống, đi đến đâu được phép thấy đất hoang thì khai khẩn, lập nên làng mạc đến đó. Mười bảy vị Tiên công đã rủ nhau cùng xuôi thuyền dọc sông Hồng, qua sông Bạch Đằng, đến cửa biển trấn An Bang thì gặp bãi sú vẹt rừng ngập mặn.
Một đêm họ lên trú ở một gò nổi của bãi, nghe thấy tiếng ếch nhái kêu, dự đoán là có nước ngọt. Họ cùng nhau lên trên gò và phát hiện có nguồn nước ngọt (hồ Mạch ngày nay). Họ quyết định dừng thuyền tại đây, đi thăm quanh vùng, thấy có nơi đậu thuyền để tránh sóng to, kênh rạch ra vào thuận lợi. Các Tiên công đã quyết định cùng gia đình lên bãi triều này khai khẩn đất hoang, đắp đê, lập làng.