PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Trung Quốc là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch thƣơng mại hai chiều Việt – Trung không ngừng tăng nhanh với tốc độ trung bình khoảng 45%/năm. Trong 24 năm, từ 1991 đến 2015, kim ngạch thƣơng mại hai chiều Việt – Trung tăng 1768 lần, từ 37,7 triệu USD năm 1991 lên 66,67 tỷ USD năm 2015. Kể từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là đối tác thƣơng mại song phƣơng lớn nhất của Việt Nam, đứng đầu về nhập khẩu và đứng thứ 3 về thị trƣờng xuất khẩu của Việt Nam.
Dự báo đến năm 2020, kim ngạch thƣơng mại song phƣơng Việt – Trung đạt mức 100 tỷ USD. Tuy nhiên, trong quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay vẫn tồn tại một số vấn đề, trong đó đáng quan tâm nhất là vấn đề mất cân bằng cán cân thƣơng mại giữa hai nƣớc. Từ năm 1991 đến 2000, Việt Nam hầu hết là xuất siêu sang Trung Quốc. Nhƣng từ năm 2001 đến 2015, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng mạnh.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc trở thành thị trƣờng mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất. Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc năm 2001 là 200 triệu USD và tăng lên tới 49,53 tỷ USD vào năm 2015. Nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc lớn đƣợc lý giải trên nhiều nguyên nhân, nhƣ nhu cầu thị trƣờng trong nƣớc, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho các công trình xây dựng, nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất xuất khẩu, nhƣng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam chƣa khai thác tốt các lợi thế để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền Việt – Trung được xác định rõ ràng.
Việt Nam có chung đƣờng biên giới đất liền với Trung Quốc dài khoảng 1 z 1.450 km, trải dài từ Đông sang Tây qua 7 tỉnh của Việt Nam, bao gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Phía Trung Quốc là khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và tỉnh Vân Nam. Trên cơ sở Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nƣớc Việt – Trung ngày 07/11/1991, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Nghị định thƣ về phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt – Trung; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới đất liền Việt – Trung; và Hiệp định về Cửa khẩu và Quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền có ý nghĩa lịch sử, lần đầu tiên biên giới đất liền Việt – Trung đƣợc hoàn chỉnh. Ba văn kiện biên giới nói trên, nhất là hệ thống cửa khẩu biên giới Việt – Trung đƣợc xác định rõ ràng, đã mở ra một thời kỳ mới về hợp tác kinh tế - thƣơng mại và các lĩnh vực khác qua các cửa khẩu biên giới đất liền Việt – Trung.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, hệ thống cửa khẩu đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy đƣợc nâng cấp, mở rộng và đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế, trao đổi thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và giữa ASEAN và các nƣớc trên thế giới với Trung Quốc nói chung. Từ đó, đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung. Thương mại biên giới Việt – Trung là vấn đề đang được xã hội quan tâm trong bối cảnh hiện nay. Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, kể từ khi bình thƣờng hóa quan hệ giữa hai nƣớc, hoạt động thƣơng mại qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung luôn là vấn đề đƣợc xã hội, các cơ quan quản lý nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm.
Với điều kiện địa – kinh tế của tuyến biên giới đất liền, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh quan hệ thƣơng mại biên giới đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung sang thị trƣờng Trung Quốc. 2 z Tuy nhiên, hoạt động thƣơng mại biên giới Việt – Trung trong giai đoạn vừa qua còn gặp nhiều khó khăn, chƣa phát triển ổn định, thƣờng ở vào thế lúng túng, bị động theo phía Trung Quốc do không nắm rõ thông tin về thị trƣờng và chính sách của Trung Quốc. Thƣơng mại biên giới Việt – Trung đƣợc đánh giá trên các khía cạnh “thƣơng mại qua các cửa khẩu chính ngạch” hay “thƣơng mại qua các cửa khẩu tiểu ngạch” hay dƣới góc độ mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thƣơng nhân và cƣ dân biên giới. Trung Quốc không chỉ là một nƣớc lớn và một thị trƣờng lớn mà còn là một nƣớc láng giềng có chung đƣờng biên giới đất liền.
Nhƣng Việt Nam chƣa xây dựng đƣợc chiến lƣợc thúc đẩy quan hệ thƣơng mại phát triển nhanh và bền vững vào thị trƣờng Trung Quốc. Do chƣa có đƣợc những bƣớc đi, lộ trình cụ thể, nên các giải pháp thúc đẩy phát triển thƣơng mại biên giới Việt – Trung chỉ mang tính chung chung, tình thế và nhất thời. Cần phải tận dụng những điều kiện thuận lợi để phát triển thƣơng mại biên giới qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung tại các tỉnh phía Bắc nói chung và các tỉnh biên giới vùng Tây Bắc nói riêng cả tầm trung và dài hạn là vấn đề đang đƣợc xã hội quan tâm trong bối cảnh hiện nay. Vì lý do trên, việc chọn đề tài “Phát triển thương mại biên giới tại một số tỉnh Tây Bắc của Việt Nam với Trung Quốc” để nghiên cứu là cần thiết.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động thƣơng mại của một số tỉnh biên giới vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc, chỉ ra những thành tựu cũng nhƣ hạn chế của hoạt động này, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thƣơng mại biên giới của các tỉnh biên giới Tây Bắc, Việt Nam với Trung Quốc trong thời gian tới. 3 z Câu hỏi nghiên cứu: i) Thương mại biên giới có vị trí, vai trò như thế nào đối với phát triển kinh tế của một quốc gia? ii) Có những nhân tố nào ảnh hưởng tới phát triển thương mại biên giới? iii) Tình hình phát triển thương mại biên giới của một số tỉnh biên giới Tây Bắc, Việt Nam với Trung Quốc thời gian qua như thế nào? iv) Nhà nước cũng như các địa phương thuộc khu vực biên giới phía Tây Bắc cần phải có những biện pháp gì để thúc đẩy phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc? Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động thƣơng mại biên giới các tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc (cơ sở lý luận, các điều kiện, đƣờng lối chính sách). - Đánh giá thực trạng hoạt động thƣơng mại các tỉnh biên giới vùng Tây Bắc nƣớc ta với Trung Quốc hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thƣơng mại các tỉnh biên giới vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng của luận văn là nghiên cứu, đánh giá hoạt động thƣơng mại biên giới của một số tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc. Phạm vi: - Không gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới trên bộ của một số tỉnh biên giới vùng Tây Bắc, Việt Nam nhƣ Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên. Đây là các tỉnh nằm trong phạm vi chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Tây Bắc gồm 12 tỉnh (Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao 4 z Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang) và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. - Thời gian: giai đoạn từ 2005 -2015, đề xuất giải pháp đến 2020.
Phương pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp duy vật biện chứng là phƣơng pháp đƣợc quán triệt trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù cho ngành kinh tế nhƣ: so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp. Những đóng góp mới của Luận văn i) Phân tích và chỉ rõ vai trò của thương mại biên giới đối với phát triển kinh tế của một quốc gia. ii) Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại biên giới.
iii) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thương mại biên giới của một số tỉnh biên giới phía Bắc, Việt Nam. iv) Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển thương mại biên giới của các tỉnh biên giới khu vực Tây Bắc. Bố cục của luận văn Dự kiến Luận văn gồm 04 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển thƣơng mại biên giới. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thƣơng mại biên giới của một số tỉnh Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc.
Chƣơng 4: Định hƣớng và một số giải pháp phát triển thƣơng mại biên giới tại một số tỉnh Tây Bắc của Việt Nam với Trung Quốc. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI BIÊN GIỚI 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đƣợc công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài. Các công trình đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể, là cơ sở cho hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Nội dung tổng quan 1.
Các nghiên cứu có tính chất lý luận về thương mại biên giới Công trình nghiên cứu “The Strategic Role of Border Economic Zones in Developing the GMS Economic Corridors: Background paper” của Aggarwal, 2011 đã chỉ ra vai trò của hợp tác kinh tế biên giới trong việc phát triển của các khu vực biên giới nói chung. Công trình đƣa ra 5 vai trò, thứ nhất, hợp tác biên giới sẽ hỗ trợ cho việc tận dụng các nguồn lực tại biên giới, thúc đầy đầu tƣ và các hoạt động kinh tế khác tại khu vực biên giới. Thứ hai, hợp tác kinh tế biên giới sẽ góp phần tạo nên sự bổ trợ về nguồn lực cho hai bên. Thứ ba, hợp tác biên giới sẽ giúp cho các vùng biên giới hẻo lánh trở thành trọng tâm của phát triển.
Thứ tư, thông qua hợp tác biên giới, các doanh nghiệp hai bên sẽ có khả năng tiếp cận đƣợc các nguồn lực với chi phí rẻ hơn, cũng nhƣ mở rộng thị trƣờng và tận dụng đƣợc lợi thế nhờ quy mô.