CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm cán cân thương mại Cán cân thương mại (CCTM) là một khái niệm trong kinh tế, dùng để phản ánh một khoản mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại biểu thị giá trị chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một nước hay một vùng lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm hay một số năm). Cán cân thương mại được đo bằng giá trị xuất khẩu trừ đi giá trị nhập khẩu.
Nếu không tính đến dịch vụ, thì cán cân thương mại hàng hóa là số liệu đối chiếu giữa giá trị xuất khẩu hàng hóa (thường tính theo giá FOB) và giá trị nhập khẩu hàng hóa (thường tính theo giá CIF) của một nước hay một vùng lãnh thổ với bên ngoài trong một khoảng thời gian nhất định. Cán cân thương mại là một phần của cán cân thanh toán của một nước, một vùng lãnh thổ hay một nền kinh tế được xem xét một cách độc lập. Nó dùng để theo dõi các hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa thương phẩm (hay hữu hình) và được phản ánh chi tiết trong cán cân tài khoản vãng lai. Khi tính đến cả “hàng hóa vô hình” hay dịch vụ (gồm cả thu nhập yếu tố ròng và các khoản chuyển giao) thì tổng lượng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ được gọi là cân đối tài khoản vãng lai.
Trong số các chỉ tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô, tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm trong nước (GDP) được tính bằng tổng của chi cho tiêu dùng (C), chi cho đầu tư (I), chi của Chính phủ (G) và tỗng của xuất khẩu hàng hóa dịch vụ (X) trừ đi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ (M) (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010). Y=C+I+G+(X-M) Như vậy, cán cân thương mại là một bộ phận quan trọng trong tổng sản phẩm trong nước, có mối quan hệ mật thiết với các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản và ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế của một nước. Ở những thời điểm khác nhau, cán cân thương mại có những thay đổi khác nhau dẫn đến sự thay đổi của toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, cán cân thương mại là một trong các chỉ số mà Chính phủ Luan van 8 dựa vào đó để tiến hành điều chỉnh các chiến lược kinh tế, mô hình kinh tế, tư duy phát triển, con đường phát triển của đất nước trong cả ngắn hạn và dài hạn.
Do cán cân thương mại là kết quả của phép trừ giữa xuất khẩu và nhập khẩu ở mỗi quốc gia nên sẽ xảy ra các trường hợp sau: - Khi không có chênh lệch đáng kể giữa xuất khẩu và nhập khẩu, thì cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng. - Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, tức là giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu thì cán cân thương mại có thặng dư hay còn gọi là tình trạng xuất siêu. Thặng dư thương mại sẽ giúp quốc gia đó giàu lên, tích lũy được nhiều của cải hơn. - Khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, tức là giá trị xuất khẩu nhỏ hơn giá trị nhập khẩu, thì cán cân thương mại có thâm hụt, hay còn gọi là tình trạng nhập siêu.
Khoản thâm hụt này phải được bù đắp bằng một nguồn nào đó để cán cân thanh toán chung trở nên cân bằng, bao gồm cả việc vay nợ trong nước và nước ngoài. Thâm hụt thương mại kéo dài mà không có những chính sách hỗ trợ sẽ dễ đẩy đất nước gặp phải những bất ổn kinh tế vĩ mô. Những bất ổn này nhẹ thì gây ra khủng hoảng kinh tế trong ngắn hạn (như thiếu hàng hóa, lạm phát cao, tăng trưởng kinh tế suy giảm), nặng sẽ góp phần gây ra khủng hoảng trong dài hạn, thậm chí phá sản ở tầm quốc gia khi những khoản nợ quốc gia đến hạn không thanh toán được. Tuy nhiên, trạng thái của nền kinh tế không chỉ được quyết định bởi tình trạng của cán cân thương mại thặng dư hay thâm hụt trong ngắn hạn mà còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác đã nêu trên như chi cho tiêu dùng, chi tiêu đầu tư, chi tiêu của Chính phủ.
Ngoài ra, chính cách chính sách mà chính phủ áp dụng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Cán cân thương mại song phương Cán cân thương mại song phương (cán cân thương mại giữa hai nước) là một chỉ số biểu hiện mối quan hệ phụ thuộc kinh tế giữa hai nước. Một nghiên cứu của Valentino Piana năm 2004phân loại quan hệ kinh tế giữa hai nước thành bốn mức độ sau đây: Luan van 9 - Phụ thuộc hay lệ thuộc (dependence): là tình trạng nước A cần tới nước B, trong khi nước B không cần tới nước A - Địa vị trội hơn hay chiếm ưu thế hơn (dominance): là tình trạng nước A có thể từ bỏ quan hệ với nước B, trong khi nước B cần tới nước A - Liên kết cân đối hay bình đẳng (symmetric integration): là tình trạng quan hệ cả hai nước đều cần đến nhau - Không có quan hệ (absence): là tình trạng mà hai nước không có hoặc không cần quan hệ với nhau. Theo kết quả phân tích của Valentino Piana vào năm 2004, cấu trúc thương mại của các nước trên thế giới gồm 8% không cần quan hệ, 40% có quan hệ địa vị nổi trội hơn (và tương ứng với nước kia yếu hơn) trong số các nước có quan hệ song phương, 46% có địa vị trội hơn nhưng ở mức độ yếu (và tương ứng yếu hơn) trong số các nước có quan hệ song phương, chỉ có 6% có quan hệ liên kết cân đối (bình đẳng).
Địa vị quan hệ phụ thuộc (lệ thuộc) giữa hai nước do cán cân xuất nhập khẩu quy định. Có 4 mức độ trong cán cân thương mại song phương: - Đối với nước A, nước B là thị trường xuất khẩu chính - Đối với nước A, nước B là nguồn cung cấp hàng hóa nhập khẩu chính - Đối với nước B, nước A là thị trường xuất khẩu chính - Đối với nước B, nước A là nguồn cung cấp hàng hóa nhập khẩu chính Để có thể đánh giá thực trạng quan hệ thương mại song phương giữa hai quốc gia, cần có các tiêu chí, con số định lượng cụ thể về kim ngạch xuất – nhập khẩu và cá cân thương mại song phương. Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại Cán cân thương mại là một chỉ tiêu đo lường của nền kinh tế, do vậy, cán cân thương mại chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố và cũng tác động ngược trở lại các yếu tố khác của nền kinh tế. Trên thế giới và trong nước, trong những năm gần đây, Luan van 10 đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nhiều nước trên thế giới nghiên cứu về cán cân thương mại.
Họ tập trung vào nghiên cứu việc các yếu tố vĩ mô có tác động như thế nào đến cán cân thương mại. Trong đó, các biến số vĩ mô chủ yếu được nghiên cứu là tỷ giá hối đoái thực đa phương, thu nhập quốc dân thực trong nước (GDP), thu nhập quốc dân thực của các đối tác thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn cung tiền và các chính sách của chính phủ. Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân (GDP) Thu nhập thực tế của một quốc gia (đã điều chỉnh lạm phát) tăng làmgia tăng mức tiêu thụ hàng hóa. Một sự gia tăng trong chi tiêu hầu như sẽ phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài.
Vì vậy, khi GDP tăng làm nhập khẩu có xu hướng tăng. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc vào xu hướng nhập khẩu cận biên (MPZ). MPZ phản ánh phần của GDP tăng thêm mà người dân muốn chi tiêu cho hàng hóa nhập khẩu. Ảnh hưởng của lạm phát Lạm phát của một nước cũng có ảnh hưởng đến cán cân thương mại thông qua việc làm tăng hay giảm giá trị đồng tiền của một quốc gia.
Khi lạm phát một nước tăng cao so với nước đối tác, trước tiên, do giá hàng hóa trong nước tăng lên làm người tiêu dùng trong nước chuyển sang sử dụng hàng hóa nước ngoài. Điều này làm cho nhập khẩu tăng, kéo theo nhu cầu ngoại tệ tăng làm đồng ngoại tệ tăng giá. Bên cạnh đó, giá cao cũng làm giảm sút nhu cầu hàng hóa nước ngoài đối với hàng trong nước (hay làm giảm xuất khẩu), từ đó cũng làm ngoại tệ tăng giá do nguồn cung ngoại tệ giảm. Hai điều này sẽ làm tăng giá đồng ngoại tệ, hay nói cách khác là đồng tiền của nước có lạm phát cao đã bị giảm giá để bù lại mức chênh lệch lạm phát, từ đó không làm tăng nhu cầu với hàng hóa nhập khẩu và làm cho lạm phát của một nước sẽ ít có tác động lên tình hình của nước khác.
Tuy nhiên, nếu ngoại lực này đủ lớn và nếu có sự can thiệp của chính phủ làm tỷ giá nội tệ/ngoại tệ tăng cao hơn tốc độ tăng giá hàng hóa trong nước so với nước ngoài thì hàng hóa trong nước sẽ có giá rẻ hơn hàng hóa nước ngoài. Khi đó, chúng ta gọi là đồng nội tệ được định giá thấp, cán cân thương mại được cải thiện. Ngược lại, nếu tỷ giá tăng Luan van 11 không đủ bù lạm phát thì đồng nội tệ sẽ bị định giá cao và cán cân thương mại sẽ bị xấu đi. Các hiệp ước thương mại quốc tế Các hiệp ước thương mại quốc tế ký kết giữa hai quốc gia (Hiệp ước thương mại song phương) hoặc các hiệp ước thương mại giữa nhiều quốc gia với nhau (Hiệp ước thương mại đa phương) có ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại.
Tuy vậy, tác động của các hiệp ước thương mại làm thặng dư hay thâm hụt cán cân thương mại sẽ khác nhau giữa các quốc gia. Nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, khả năng sản xuất của quốc gia đó với các nguồn lực trong nước bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu đầu vào, trình độ khoa học kỹ thuật và nhân công của quốc gia đó. Điều này cũng có nghĩa là sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nguồn tài nguyên thiên nhiên, yếu tố con người và năng suất lao động. sẽ góp phần vô cùng quan trọng trong việc cải thiện cán cân thương mại của một quốc gia, hay thậm chí còn là yếu tố quyết định.