phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quan hệ thƣơng mại của Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển quan hệ thƣơng mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƢƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM 1.
Thƣơng mại quốc tế và phát triển quan hệ thƣơng mại quốc tế 1. Lý thuyết về thương mại quốc tế Sự phát triển của nền văn minh loài ngƣời gắn liền với các hoạt động trao đổi, buôn bán, quan hệ trao đổi sản phẩm trong từng bộ tộc, từng bản làng, từng vùng, dần dần đƣợc mở rộng ra khỏi phạm vi quốc gia thành quan hệ thƣơng mại quốc tế, đây là sự phát triển tất yếu mang tính khách quan. Trong tác phẩm Tƣ bản, C.Mác đã định nghĩa thƣơng mại là “ sự mở rộng hoạt động thƣơng mại ra khỏi phạm vi một nƣớc. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hóa trên thị trƣờng thế giới.
Thông qua hoạt động thƣơng mại quốc tế, các nƣớc buôn bán những hàng hóa và dịch vụ để thu lợi nhuận”. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trật tự kinh tế - chính trị của thế giới đã đƣợc sắp xếp lại, cùng với sự tiến bộ và phát triển nhƣ vũ bão về khoa học, công nghệ đã dẫn đến dự phát triển đa dạng các hình thức quan hệ kinh tế, thƣơng mại giữa các quốc gia. Khái niệm kinh tế đối ngoại đã đƣợc các nƣớc có nền kinh tế kế hoạch tập trung sử dụng, “bao gồm các hoạt động khác nhau nhƣ ngoại thƣơng, hợp tác quốc tế về đầu tƣ và thu hút nguồn vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài, hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ và các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác .” Khái niệm thƣơng mại quốc tế có nội dung rộng hơn khái niệm ngoại thƣơng, đối tƣợng của nó không chỉ gồm các hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các dịch vụ liên quan chặt chẽ đến hàng hóa thông thƣờng nhƣ dịch vụ kỹ thuật, mua bán phát minh sáng chế, dịch vụ vận tải, thƣơng mại điện tử và các dịch vụ thƣơng mại quốc tế khác. 7 z Năm 1948, GATT đƣợc thành lập, khái niệm thƣơng mại quốc tế đƣợc sử dụng và gắn liên với nội dung điều chỉnh của GATT, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thƣơng mại hàng hóa hữu hình trong bối cảnh mức độ bảo hộ còn cao.
Trên cơ sở GATT, vào năm 1995 WTO ra đời theo Hiệp định Marrakesh. WTO hoạt động dựa trên các luật lệ và quy tắc điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thƣơng mại quốc tế, đƣợc hình thành trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản nhƣ: thƣơng mại không có sự phân biệt đối xử, chỉ bảo hộ thuế quan và xây dựng một nền tảng ổn định cho thƣơng mại quốc tế; thƣơng mại ngày càng đƣợc tự do hóa và thuận lợi hóa theo xu hƣớng toàn cầu, làm cho các quan hệ thƣơng mại quốc tế không ngừng phát triển, qua đó thúc đẩy tiến trình tự do hóa thƣơng mại trên toàn thế giới. Từ đó đến nay, thƣơng mại quốc tế đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ nhƣ: ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tƣ vấn. Các loại hình dịch vụ này cùng với lĩnh vực thƣơng mại gắn với đầu tƣ và quyền sở hữu trí tuệ đã phát triển hết sức nhanh chóng và trở thành bộ phận quan trọng của thƣơng mại quốc tế.
Với sự ra đời của WTO từ 1/1/1995, khái niệm thƣơng mại quốc tế đã đƣợc sử dụng rộng rãi. Xét về đặc trƣng thì thƣơng mại quốc tế đƣợc định nghĩa là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia, hay giữa các đối tác có quốc tịch khác nhau. Các định nghĩa này đƣợc sử dụng nhiều nhất khi xem xét chức năng của thƣơng mại, vai trò của thƣơng mại nhƣ là chiếc cầu nối cùng và cầu về hàng hóa, dịch vụ xét cả về số lƣợng, chất lƣợng và thời gian sản xuất. Trong nhiều trƣờng hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ đƣợc đi kèm với việc trao đổi các yếu tố sản xuất nhƣ lao động, vốn, nhất là khi đề cập đến thƣơng mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Trong bối cảnh kinh doanh quốc tế hiện đại, thƣơng mại quốc tế đƣợc hiểu là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ giữa các đối tác có các quốc tịch 8 z khác nhau, ranh giới địa lý không còn là tiêu trí duy nhất để xác định hoạt động thƣơng mại quốc tế nhƣ trƣớc đây nữa. Căn cứ vào cách tiếp cận, có thể chia các lý thuyết hiện đại về thƣơng mại quốc tế thành 3 nhóm: lý thuyết dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô, lý thuyết về khoảng cách công nghệ và lý thuyết vòng đời sản phẩm. a/ Lý thuyết thƣơng mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô Hiệu quả kinh tế theo quy mô hay hiệu suất tăng dần theo quy mô là một trong những nguồn gốc quan trọng của thƣơng mại quốc tế. Thông thƣờng, khi sản xuất một loại hàng hóa với quy mô lớn sẽ: Tiết kiệm đƣợc nguồn nhân lực và các loại chi phí; sử dụng tối đa công suất máy móc thiết bị; tạo điều kiện tối ƣu hóa kế hoạch sản xuất và phân công lao động chuyên môn hóa sâu.
Nhờ đó, chất lƣợng sản phẩm cũng sẽ đƣợc nâng lên và giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn so với giá thành cùng loại sản phẩm sản xuất ở quy mô nhỏ hơn. Khi quy mô sản xuất lớn tới mức không chỉ thỏa mãn nhu cầu trong nƣớc (về số lƣợng, chất lƣợng, giá cả .) mà còn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, sẽ tạo khả năng nhập khẩu các loại hàng hóa khác phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nƣớc. Theo đó, hiệu quả kinh tế theo quy mô cũng chính là một trong những nguồn gốc của phát triển quan hệ thƣơng mại quốc tế. Đối với mỗi quốc gia, hiệu quả kinh tế theo quy mô chỉ có thể đạt đƣợc khi biết tận dụng triệt để những lợi thế của đất nƣớc và phát triển quan hệ thƣơng mại quốc tế có hiệu quả.
Vì nhờ có thƣơng mại quốc tế, từng quốc gia có khả năng và điều kiện tập trung vào sản xuất quy mô lớn những mặt hàng có lợi thế và đem trao đổi với các quốc gia khác để có đƣợc những sản phẩm mà mình không có lợi thế khi sản xuất ra chúng. Khác với cách tiếp cận của các lý thuyết trƣớc, trong mô hình thƣơng mại dựa trên hiệu suất theo quy mô, với tỷ lệ trao đổi quốc tế cũng đúng bằng mức giá tƣơng quan trƣớc khi có ngoại thƣơng và mỗi quốc gia thực hiện 9 z chuyên môn hóa hoàn toàn, nhƣng theo hƣớng chuyên môn hóa không xác định. Đây cũng chính là sự khác biệt giữa thƣơng mại dựa trên hiệu suất theo quy mô và thƣơng mại dựa trên lợi thế so sánh. b/ Lý thuyết về khoảng cách công nghệ Lý thuyết về khoảng cách công nghệ đƣợc Posner đƣa ra vào năm 1961, dựa trên ý tƣởng cho rằng công nghệ luôn thay đổi nhờ sự ra đời của các phát minh sáng chế đã tác động đến xuất khẩu của các quốc gia.
Sau khi một phát minh ra đời, một sản phẩm mới xuất hiện và trở thành mặt hàng mới mà quốc gia phát minh có lợi thế tuyệt đối tạm thời. Ban đầu, nhà phát minh sản phẩm mới giữ vị trí độc quyền trong sản xuất và sản phẩm đƣợc tiêu thụ trên thị trƣờng nội địa. Sau một thời gian, nhu cầu về sản phẩm này xuất hiện ở nƣớc ngoài và sản phẩm bắt đầu đƣợc xuất khẩu. Dần dần, các nhà sản xuất nƣớc ngoài sẽ bắt trƣớc công nghệ và sản xuất một cách có hiệu quả hơn sản phẩm đó tại chính quốc gia mình.
Khi đó lợi thế so sánh trong sản xuất sản phẩm này lại thuộc về quốc gia khác (không phải là quốc gia phát minh ra công nghệ mới). Còn ở quốc gia phát minh, một sản phẩm mới khác có thể đƣợc ra đời và quá trình phát triển sản phẩm có thể lại đƣợc lặp lại nhƣ trên. Tuy nhiên, trong quá trình này, sản phẩm chỉ đƣợc xuất khẩu nếu nhƣ thời gian cần thiết để sản phẩm đƣợc bắt chƣớc ở nƣớc ngoài dài hơn thời gian xuất hiện nhu cầu về sản phẩm đó từ thị trƣờng nƣớc ngoài. Lý thuyết này cho phép giải thích hai dạng thƣơng mại: Thứ nhất, nếu nhƣ hai quốc gia có cùng tiềm năng công nghệ vẫn có quan hệ thƣơng mại, vì phát minh sáng chế trong chừng mực nào đó là một quá trình ngẫu nhiên.
Vai trò tiên phong của một quốc gia trong lĩnh vực nào đó sẽ đƣợc đổi lại bởi vai trò tiên phong của quốc gia kia trong một lĩnh vực khác. Dạng thƣơng mại này thƣờng diễn ra giữa các quốc gia công nghiệp phát triển. 10 z Thứ hai, thƣơng mại đƣợc hình thành khi một quốc gia năng động hơn về công nghệ so với quốc gia khác. Khi đó, quốc gia thứ nhất thƣờng xuất khẩu những mặt hàng mới và công nghệ cao để đổi lấy những mặt hàng đã đƣợc chuẩn hóa từ quốc gia thứ hai.
Sau một thời gian các mặt hàng mới này lại đƣợc chuẩn hóa, nhƣng với khả năng ƣu việt về công nghệ nên nƣớc thứ nhất lại cho ra đời các sản phẩm mới khác. Một số nhân tố quyết định vai trò tiên phong của một quốc gia trong lĩnh vực công nghệ là tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển tốt hơn quốc gia khác, đó là: Sự khác biệt về thể chế, ở nhiều quốc gia hoạt động nghiên cứu và phát triển đƣợc khuyến khích bởi những bộ luật thích hợp về phát minh, sáng chế, bản quyền, thuế và các quỹ phát triển; Mỗi quốc gia có thể đƣợc những nguồn lực thích hợp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển hơn quốc gia khác (nguồn tài chính dồi dào, lực lƣợng hùng hậu các nhà khoa học .); Thị trƣờng trong nƣớc thích hợp đối với sản phẩm mới, thị trƣờng đó thƣờng có quy mô lớn, sức mua cao (các sản phẩm mới thƣờng đƣợc sản xuất với chi phí ban đầu cao). c/ Lý thuyết vòng đời sản phẩm Lý thuyết vòng đời sản phẩm về thực chất chính là sự mở rộng lý thuyết về khoảng cách công nghệ. Các phát minh sáng chế thƣờng đƣợc ra đời ở các quốc gia phát triển và giàu có, nhƣng không có nghĩa là quá trình sản xuất chỉ đƣợc thực hiện ở các quốc gia đó.