CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.1 Khái niệm về rủi ro và quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan 1.1 Rủi ro trong lĩnh vực hải quan 1.1 Rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến. Mỗi giai đoạn khác nhau, mỗi lĩnh vực, trường phái khác nhau, các học giả lại đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến như: Allan H.Willett cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” (Allan H.33) Quan điểm của Frank H. Knight được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao khi cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được” (Knight Frank H, 1921, tr.20) Tại Việt Nam, trong cuốn giáo trình vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương định nghĩa “rủi ro là những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên” (Hoàng Văn Châu và Nguyễn Hồng Đàm, 1997).
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng chúng đều cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn không chắc chắn. Thứ hai, trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn và có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro”.2 Rủi ro trong lĩnh vực hải quan Lĩnh vực hải quan cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro, các quốc gia có những khái niệm về rủi ro trong lĩnh vực hải quan khá đa dạng: Liên minh EU đưa ra khái niệm về rủi ro trong lĩnh vực hải quan là “khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn việc áp dụng các biện pháp xử lý của cộng đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối xử hàng hóa của Hải quan” (European Commission, 2007, tr. 7 Theo Hải quan Hoa Kỳ, rủi ro được xác định như mức độ tiếp cận những cơ hội không tuân thủ, dẫn đế tổn thương hoặc mất mát, thiệt hại liên quan đến thương mại, công nghiệp (John Phyper, 2004, tr. Trong phụ lục tổng quát - Chương 6 - Hướng dẫn Công ước KYOTO sửa đổi năm 1999, WCO đã thống nhất “rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ Pháp luật hải quan” (WCO, 1999, tr.
Trong đó, pháp luật hải quan được hiểu là hệ thống pháp luật bao gồm các cam kết, chuẩn mực quốc tế mà nước đó ký kết và công nhận tham gia, hệ thống các văn bản luật pháp quốc gia. Hiện nay, có nhiều quốc gia áp dụng khái niệm này trong đó có Việt Nam. Luật Hải quan 2014 qui định: “rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải” (Quốc hội, 2014a). Vì thế luận văn sẽ dùng khái niệm này làm cơ sở để nghiên cứu các vấn đề liên quan.3 Phân loại rủi ro trong lĩnh vực hải quan * Căn cứ vào lĩnh vực xuất hiện: Theo văn bản hướng dẫn về bộ tiêu chí rủi ro của WCO thì có 4 lĩnh vực xuất hiện rủi ro: - Đảm bảo nguồn thu: Rủi ro các hành động xảy ra gây nên thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.
- Phương tiện vận tải: rủi ro phương tiện vận tải có chuyên chở hàng hóa, hành khách có nguy cơ buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, có tuyến đường vận chuyển trái phép và các vi phạm pháp luật hải quan khác. - Ma túy và các thành phẩm: rủi ro hàng hóa là ma túy và các chế phẩm bị cấm. - An ninh và ngăn cấm: rủi ro hàng hóa, hành khách, phương tiện chuyên chở hàng hóa, hành khách gây nguy hại đến an ninh quốc gia và nguy hiểm cho xã hội. * Căn cứ và nguồn gốc gây ra rủi ro: Nguy cơ không tuân thủ pháp luật hải quan có thể đến từ trong nội bộ ngành Hải quan (rủi ro bên trong), bao gồm: - Rủi ro do hệ thống pháp luật, quy trình, thủ tục không phù hợp; 8 - Rủi ro do công chức thừa hành không liêm chính.
Ngoài ra, nguy cơ không tuân thủ pháp luật hải quan còn có nguồn gốc từ các đối tượng ngoài ngành Hải quan (rủi ro bên ngoài), bao gồm: - Rủi ro từ các DN, tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu; - Rủi ro từ các tổ chức xã hội, các cơ quan, đơn vị thuộc các bộ ngành có liên quan; - Rủi ro từ các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan hoạt động hải quan.2 Quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan 1.1 Khái niệm Trong bối cảnh thương mại quốc tế đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ. Để đạt được một sự cân bằng giữa việc tạo thuận lợi thương mại và kiểm soát theo qui định, nhìn chung các CQHQ đã dần dần từ bỏ việc kiểm tra truyền thống, để chuyển sang áp dụng QLRR như một kỹ thuật để đưa ra các quyết định ưu tiên và phân bố hiệu quả hơn các nguồn lực cần thiết. Theo WCO, “QLRR là việc áp dụng các hệ thống các thủ tục và thực tế quản lý trong đó thực hiện việc cung cấp, xử lý hải quan với các thông tin cần thiết đối với doanh nghiệp hoặc lô hàng mà hiện đang tiềm ẩn nguy cơ rủi ro” (WCO, 2003, tr. Trong khái niệm này, “các thủ tục và thực tế quản lý” là các biện pháp, quy trình nghiệp vụ pháp luật liên quan đến việc thông lô hàng, “lô hàng” ở đây chỉ tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, gia công, quá cảnh.
Điều 4, Luật Hải quan 2014 đã đưa ra khái niệm về QLRR một cách rõ ràng, cụ thể, theo đó: “QLRR là việc CQHQ áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả” (Quốc hội, 2014a). Vì vây, QLRR là một kỹ thuật để xác định và thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế tối đa khả năng rủi ro xảy ra và giảm thiểu hậu quả của nó. Đối với ngành Hải quan, QLRR trong hải quan được thực hiện trên cơ sở tất cả các nguồn thông tin thu thập trong và ngoài nước để đánh giá tính tuân thủ của DN, từ đó quyết định việc kiểm tra hoặc không kiểm tra cũng như việc áp dụng hay không áp dụng các nghiệp vụ hải quan khác. Việc áp dụng QLRR với mục đích tạo thuận 9 lợi hơn cho các DN tuân thủ tốt pháp luật, do đó việc kiểm tra sẽ tập trung hơn ở những vùng hay với những lô hàng của DN có nguy cơ rủi ro cao hơn về mức độ không tuân thủ pháp luật hải quan.2 Lợi ích của áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vưc hải quan Nhìn chung, CQHQ các nước trên thế giới có 2 nhiệm vụ chính: tạo thuận lợi cho thương mại và đảm bảo kiểm soát tuân thủ pháp luật.
Với khối lượng công việc lớn, tăng tỷ lệ thuận với khối lượng giao dịch thương mại quốc tế CQHQ cần phải có những công cụ hỗ trợ quản lý hiệu quả. QLRR là một trong số đó. Một hệ thống QLRR tốt sẽ là nền tảng cho các hoạt động hải quan đạt hiệu quả cao. Trên thực tế, hầu hết các CQHQ đều áp dụng một vài hình thức quản lý dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro.
Các quy định quản lý này bao trùm lên các hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của hải quan, gồm thông quan hàng hóa, thu thuế và kiểm soát tuân thủ. Một hệ thống QLRR hiệu quả trong lĩnh vực hải quan mang lại những lợi ích như: - Phân bố nguồn nhân lực hiệu quả hơn: QLRR tạo điều kiện cho cán bộ hải quan tập trung nguồn lực vào những lô hàng trọng điểm, bớt gánh nặng và sức ép của việc quá tải khối lượng công việc, nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu suất làm việc của Hải quan; - Hạn chế tiêu cực, chống thất thu thuế: trước đây khi thực hiện quy trình thủ tục hải quan truyền thống trách nhiệm đặt toàn bộ lên các công chức hải quan, công chức can thiệp sâu vào quy trình thông quan hàng hóa của DN, để phát hiện rủi ro trong lô hàng, CQHQ chủ yếu dựa trên kiểm tra thực tế với tỷ lệ kiểm tra cao, điều này tạo ra những kẽ hở để cán bộ công chức có thể gây nhũng nhiễu phiền hà đối với DN. Khi QLRR được áp dụng, mặc dù kiểm tra thực tế hàng hóa ít hơn nhưng tính chuyên nghiệp và hiệu suất làm việc của CQHQ được nâng cao, giúp gia tăng số thuế thu được từ DN, quyết định thống nhất khách quan hơn tạo ra môi trường minh bạch, hạn chế được hiện tượng móc nối với tội phạm nhằm mục đích trục lợi của cán bộ công chức hải quan. 10 - Giảm bớt thời gian giải phóng hàng: trên nền tảng ứng dụng kỹ thuật QLRR, thời gian thông quan và giải phóng hàng ngày càng được rút ngắn, đặc biệt với những lô hàng được phân luồng xanh.
Thông quan trên cơ sở QLRR có thể giúp giải phóng được số lượng lớn hàng hóa sau khi hồ sơ được nộp cho Hải quan; - Cắt giảm chi phí giao dịch: nếu như thời gian thông quan dựa trên những quy trình, thủ tục cũ có thể lên đến 1-2 tuần thì với kỹ thuật QLRR mới, 80-90% hàng hóa sẽ được giải phóng trong vòng vài giờ, vì vậy tiết kiệm được rất nhiều chi phí giao dịch cho DN; - Nâng cao được tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp: việc được đánh giá là DN tuân thủ tốt pháp luật mang lại nhiều lợi ích lớn cho DN, cụ thể: hàng hóa của DN sẽ được phân luồng xanh nhiều hơn, thời gian thông quan nhanh hơn, giảm thiểu được các chi phí liên quan đến lô hàng như đã nêu trên. Điều này là động lực rất lớn để các DN tuân thủ tốt pháp luật, đảm bảo cho hàng hóa của mình được lọt vào luồng xanh.