Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Kiểm tra sau thông quan và quy trình tiến hành 1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm tra sau thông quan 1. Khái niệm Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) là quá trình nhân viên Hải quan kiểm tra tính trung thực hợp lý và độ tin cậy của các thông tin chủ hàng đã khai báo với hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại hải quan, chứng từ kế toán, ngân hàng của các lô hàng đã thông quan.
Những chứng từ này do các chủ thể (cá nhân/công ty) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế lưu giữ. Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.7]Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu người khai hải quan. Kiểm tra sau thông quan là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan, vì nó đưa ra bức tranh Luan van 10 rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hàng hóa xuất nhập khẩu, được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp.
Kiểm tra sau thông quan cho phép cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm tra hải quan theo hướng đơn giản, ưu tiên làm thủ tục hải quan nhanh chóng, thuận tiện đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan nhưng vẫn đảm bảo việc ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý xuất nhập khẩu, đấu tranh chống gian lận thương mại hữu hiệu nhất. Đối tượng kiểm tra Kiểm tra sau thông quan chỉ kiểm tra các đơn vị có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kinh doanh xuất nhập khẩu đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Không phân việt thành phần kinh tế, nguồn vốn sở hữu cũng không chờ đợi sự thoả thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp. Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh xuất nhập khẩu chính là các chủ hàng xuất nhập khẩu (doanh nghiệp và /hoặc cá nhân) Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu có thể là (nhưng không chỉ giới hạn trong các đối tượng này): Các đại lý khai thuê/môi giới hải quan: nắm giữ các chứng từ thương mại hải quan, các thông tin khác về hàng hoá và trị giá.
Các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác: nắm giữ các thông tin giao dịch trước khi hợp đồng thương mại và hợp đồng thương mại… Các doanh nghiệp kho vận ngoại thương: nắm giữ các chứng vận chuyển hàng hoá, số lượng bản chất chủng loại đơn giá, tổng trị giá hàng hoá. Luan van 11 Các hãng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu: phát hành và lưu giữ chứng từ vận chuyển, hành trình của con tàu, cước phí vận tải (để xác định trị giá hải quan và xuất xứ hàng hoá), biên bản hải sự, báo cáo tổn hại hàng hoá (để xem xét trường hợp tổn thất trị giá thương mại của hàng hoá - một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới giảm thuế thường bị lạm dụng). Các hãng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu: nắm giữ các chứng từ bảo hiểm, phí bảo hiểm (một yếu tố cấu thành của trị giá hàng quan) và các chứng từ khác (Trị giá cần bảo hiểm – Insurable Value, Số tiền bảo hiểm – Amount Insued…) để xác định trị giá hải quan, mối quan hệ thương tác về thời gian ghi trên chứng từ bảo hiểm với thời gian ghi trên các chứng từ khác có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiệp vụ xét đoán chứng từ. Các ngân hàng thương mại: nắm giữ các chứng từ ghi nhận số tiền thực tế đã chuyển trả cho người xuất khẩu, tiền bán hàng xuất khẩu trên thị trường nội địa để từ đó có thể phân tích tìm ra trị giá hải quan và các thông tin khác.
Cơ quan thuế nội địa: nắm giữa các thông tin về giá bán hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa, thuế giá trị gia tăng đầu vào - đầu ra, các chi phí hợp lý của doanh nghiệp giúp cho việc phân tích xác định trị giá hải quan. Người mua hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa: giá thực tế đã mua hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa từ đó phân tích để tìm ra giá nhập khẩu, chủng loại xuất xứ của hàng hoá thực tế đã mua để đối soát với những thông tin này trên hồ sơ hải quan. Các cơ quan, tổ chức giám định hàng hóa,… Theo luật pháp của nhiều nước thì các đối tượng có liên quan trực tiếp đến thương mại quốc tế (người nhập khẩu/người ủy thác) là đối tượng trực Luan van 12 tiếp của kiểm tra sau thông qua, các đối tượng khác có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ và cung cấp các thông tin cần thiết khi cơ quan Hải quan yêu cầu. Phạm vi kiểm tra Kiểm tra sau thông quan chỉ kiểm tra xét đoán các chứng từ thương mại Hải quan, các ghi chép kế toán ngân hàng (Accounting Banking Records) có liên quan đến các lô hàng đã xuất hoặc nhập khẩu.
Đặc điểm này khẳng định chức năng riêng biệt chuyên ngành không thể thay thể của kiểm tra thông quan và phân biệt nó với mọi loại hình kiểm tra, kiểm toán khác. Mục đích của kiểm tra sau thông quan Kiểm tra việc chấp hành Luật hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng như các quy định khác về xuất nhập khẩu, từ đó mà phát hiện, ngăn chặn tình trạng gian lận trốn thuế và/hoặc vi phạm Luật Hải quan, vi phạm chính sách mặt hàng. Quá trình thực hiện một cuộc kiểm tra sau thông quan công chức Hải quan phải kiểm tra xét đoán xem doanh nghiệp có chấp hành nghiêm túc các văn bản pháp quy, các quy định mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải chấp hành hay không, xét về góc độ này kiểm tra sau thông quan thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ. Nhưng mục đích chính của kiểm tra sau thông quan là phát hiện tình trang gian lận (chủ yếu là gian lận qua giá) để trốn thuế vì vậy phải kiểm tra xét đoán sổ và chứng từ kế toán, ngân hàng tức là phải vận dụng nhiều kiến thức kiểm toán tài chính.
Như vậy xét về bản chất thì kiểm tra sau thông quan thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ - tài chính. Cũng cần nói thêm rằng, hoạt động kiểm tra sau thông quan phụ thuộc rất nhiều vào pháp luật của Nhà nước, trước hết là Luật Hải quan, Luật thuế, Luan van 13 Luật kế toán, Luật ngân hàng… các Luật này của các nước không giống nhau. Vì vậy nội dung phương pháp và phạm vi hoạt động kiểm tra sau thông quan của các nước không giống nhau. Quy trình kiểm tra sau thông quan Theo quyết định số 575/QĐ-TCHQ, quy trình kiểm tra sau thông quan gồm các bước: 1 - Thu thập, xử lý thông tin phục vụ kiểm tra sau thông quan; 2 - Xác định đối tượng, quyết định kiểm tra; 3 - Thực hiện kiểm tra; 4 - Xử lý kết quả kiểm tra; 5 - Theo dõi, báo cáo, phản hồi, cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ.
Thu thập, xử lý thông tin phục vụ kiểm tra sau thông quan Nguồn thông tin: Thu thập thông tin là hoạt động nghiệp vụ thường xuyên của công chức thực hiện trong quy trình kiểm tra sau thông quan. Thu thập, xử lý thông tin phục vụ kiểm tra sau thông quan 1. Xác định đối tượng, quyết định kiểm tra Xác định đối tượng dề xuất kiểm tra: Công chức tiến hành xác định đối tượng kiểm tra trên cơ sở kết quả thu thập, phân tích thông tin từ bước 1. Lập kế hoạch kiểm tra Phê duyệt, ký ban hành quyết định kiểm tra 1.
Thực hiện kiểm tra Công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan Tiến hành kiểm tra Báo cáo, đề xuất, xử lý kết quả kiểm tra Luan van 14 Thông báo kết quả kiểm tra/kết luận kiểm tra 1. Xử lý kết quả kiểm tra Quyết định ấn định thuế Xử lý vi phạm hành chính Giải quyết khiếu nại Tham gia giải quyết khiếu naị tố tụng hành chính 1. Theo dõi, báo cáo, phản hồi, cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ Theo dõi khai bổ sung và chuyển hồ sơ, hình thức kiểm tra Báo cáo, phản hồi kết qủa kiểm tra trong hệ thống kiểm tra sau thông quan Cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ 1. Pháp luật kiểm tra sau thông quan 1.
Khái niệm pháp luật kiểm tra sau thông quan Kiểm tra sau thông quan phát sinh, phát triển trong hoạt động hải quan là một đòi hỏi tất yếu khách quan từ sự phát triển của thương mại quốc tế và yêu cầu của quản lý hải quan hiện đại. Việc thực hiện KTSTQ nhằm đáp ứng mục đích vừa tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, vừa đảm bảo được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về hải quan. Để mục tiêu này trở thành hiện thực và được thực hiện thống nhất, các quốc gia đều ban hành các quy phạm pháp luật để KTSTQ trở thành một hoạt động chính thống, luật định, mang tính bắt buộc và đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực nào thì tạo nên pháp luật về lĩnh vực đó.
Các quy định pháp luật về thực hiện KTSTQ của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tạo nên pháp luật về KTSTQ. Pháp Luan van 15 luật về KTSTQ được hình thành để điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan để thẩm định tính chính xác, trung thực của quá trình khai báo hải quan [14, tr.