Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm và vai trò của kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu 1. Cơ sở hình thành nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều quốc gia từ chậm phát triển đến các nước đã, đang phát triển, bất cứ một quốc gia nào cũng phải đẩy mạnh và tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế này, được thuận lợi hay gặp khó khăn bởi lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa kinh tế mang lại thông qua trao đổi thương mại để tận dụng lợi thế so sánh, tương đối hay tuyệt đối của quá trình giao thương kinh tế quốc tế. Theo số liệu thống kê của Diễn đàn Liên hợp quốc về phát triển đầu tư và thương mại (UNCTAD) thì tổng trị giá XNK hàng hóa và dịch vụ năm 1980 toàn Thế giới là 2.376 tỷ USD, đến năm 1990 là 4.260 tỷ USD (tăng 179%), đến năm 2000 đạt 7.940 tỷ USD (tăng 186% so với năm 1990), đến 2010 là 18.
Như vậy, so sánh trị giá XNK hàng hóa và dịch vụ năm 2010 so với năm 1980 tăng gấp 8 lần (798%). Trong khi đó, thương mại của Việt Nam kể từ khi mở cửa nền kinh tế và hội nhập với thế giới đã có những bước tăng trưởng ngoạn mục, theo số liệu từ Niên giám thống kê Hải quan năm 2018 thì tổng kim ngạch XNK của Việt nam qua các giai đoạn như sau: - Năm 1990 kim ngạch XNK là 1,93 tỷ USD; - Năm 1995 kim ngạch XNK là 13,4 tỷ USD, - Năm 2000 kim ngạch XNK là 30,09 tỷ USD; - Năm 2010 kim ngạch XNK là 157,08 tỷ USD; - Năm 2015 kim ngạch XNK là 327,59 tỷ USD, - Năm 2018 hiện đạt 480,16 tỷ USD, tăng 3,05 lần so với năm 2010; tăng 16 lần so với năm 2000 và tăng 248,8 lần so với năm 1990. Tình hình thực tế với những con số ấn tượng đó tất yếu dẫn đến số lượng hàng hóa XNK lưu chuyển qua các cửa khẩu luôn tăng với mức độ rất lớn. Mặc dù ngành Hải quan đã tăng cường nhiều nguồn lực về con người, tự động hóa hệ thống quản lý, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng quản lý rủi ro, tuy nhiên không thể kiểm tra, kiểm soát hết được hàng hóa lưu chuyển qua cửa khẩu mà cơ quan hải quan quản lý.
9 Bên cạnh đó thương mại quốc tế phát triển đã hình thành nhiều tổ chức thương mại song phương và đa phương như: Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, Hiệp định trị giá GATT/WTO, Hiệp định CEPT/AFTA với hơn 15 Hiệp định FTA mà Việt Nam đã ký và chuẩn bị ký kết với các nước như: Asean, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Chi lê, Nga, Belarus, Amenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Thụy sĩ, Na Uy, Iceland, EU,. Các hiệp định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương quốc tế phát triển, một mặt lại luôn đòi hỏi các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa nhanh chóng tại các cửa khẩu để đáp ứng nhu cầu của người sản xuất và kinh doanh trao đổi hàng hóa. Thực tế đó đã tạo ra sức ép vô cùng lớn cho ngành Hải quan. Đó là phải làm sao thông quan được khối lượng hàng hóa phải kiểm tra kiểm soát nhanh về thời gian; lưu trữ hàng hóa để kiểm tra tại cửa khẩu ngắn; vẫn đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của Nhà nước giao là chống gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm, hàng giả; đảm bảo phải thu đúng, thu đủ tiền thuế cho NSNN.
Mặt khác, theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, chẳng hạn Hiệp định trị giá GATT/WTO thì khi chưa có đầy đủ bằng chứng để bác bỏ trị giá khai báo của chủ hàng thì cơ quan hải quan không được phép áp đặt trị giá tính thuế mà phải chấp nhận trị giá do chủ hàng khai báo. Trong khi đó để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chống gian lận thương mại thì cơ quan hải quan lại đối mặt với thực tế khó khăn là thiếu thông tin về hàng hóa, trị giá tính thuế và trình độ nghiệp vụ của cán bộ hải quan tại các đơn vị cửa khẩu còn nhiều hạn chế. Trong khoảng thời gian ngắn không thể thực hiện kiểm tra toàn bộ hàng hóa mà chỉ có thể “kiểm tra đại diện” theo xác xuất, thường không quá 10% lô hàng và các chứng từ do chủ hàng xuất trình thì chỉ mới kiểm tra cơ bản được bề mặt thông tin và số liệu trên chứng từ của “một nửa bức tranh”. Một nửa còn lại của bức tranh nằm ở các chứng từ, sổ sách kế toán, chứng từ thanh toán qua ngân hàng,.
do chủ hàng nắm giữ, mà nhiều chứng từ và việc ghi sổ kế toán thì thường phát sinh sau khi thông quan hàng hóa, thậm chí là đã bán hàng cho bên thứ ba. Kinh nghiệm tổ chức hải quan hiện đại của các nước cho thấy nếu chỉ dừng lại ở việc kiểm tra, kiểm soát của hải quan tại cửa khẩu thì không những không thể phát hiện và ngăn chặn được các trường hợp cố ý gian lận mà còn gây phiền phức, ách tắc cho hoạt động XNK hàng hóa. Đứng trước thực tế đó, ngành Hải quan cần phải tăng cường hiệu quả quản lý bằng cách áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kéo dài thời hiệu kiểm tra, mở rộng phạm vi và đối thượng kiểm tra, kiểm soát hàng hóa XNK. Biện pháp nghiệp vụ thỏa mãn các yêu cầu như vậy chính là hoạt động KTSTQ, tức là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Theo quan điểm của Tổ chức hải quan thế giới (WCO): Trong điều kiện hiện nay, việc duy trì và phát triển hệ thống KTSTQ của ngành Hải quan là tuyệt đối cần thiết, vì một hệ thống KTSTQ đủ mạnh có thể ngăn chặn và phát hiện mọi hình thức gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận về tên gọi, mã số và thuế suất của hàng hóa, về sổ sách kế toán và chứng từ thanh toán quốc tế qua các ngân hàng. Thực chất KTSTQ là việc 10 kiểm tra tính xác thực của các thông tin do người hoạt động kinh doanh XNK đã khai báo với cơ quan hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ có liên quan đến hàng hóa XNK. Để thực hiện việc kiểm tra theo mô hình KTSTQ, công chức hải quan phải vận dụng các kiến thức chuyên ngành như: Thương mại quốc tế, ngân hàng, kế toán, trị giá,. trên cơ sở tư duy kiểm toán để phát hiện gian lận, sai sót.
Xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ này mà Tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan các nước gọi nghiệp vụ này là “Kiểm toán sau thông quan” (Post Clearance Audit - PCA) hoặc “Kiểm toán hải quan”, Việt Nam gọi là “Kiểm tra sau thông quan”. Khái niệm kiểm tra sau thông quan “Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan” - Điều 77, Luật Hải quan năm 2014. Như vậy, KTSTQ là quá trình các công chức hải quan kiểm tra tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của các thông tin mà chủ hàng đã khai báo với cơ quan hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ của các lô hàng đã thông quan. Những chứng từ này do các chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc giao dịch lô hàng đang lưu giữ.
Đối tượng KTSTQ chỉ kiểm tra các đơn vị có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kinh doanh XNK đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Không phân biệt thành phần kinh tế, nguồn vốn chủ sở hữu, cũng không chờ đợi sự thỏa thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp. - Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh XNK chính là các chủ hàng XNK (doanh nghiệp hoặc cá nhân). - Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động XNK cũng có thể là (nhưng không chỉ giới hạn trong các đối tượng này): + Các đại lý khai thuê/môi giới hải quan: nắm giữ các chứng từ thương mại, hải quan, các thông tin khác về hàng hóa và trị giá.
+ Các doanh nghiệp XNK ủy thác: nắm giữ các thông tin giao dịch trước khi ký hợp đồng thương mại và thực hiện hợp đồng. + Các doanh nghiệp kho vận, logistics: nắm giữ các chứng từ vận chuyển hàng hóa, số lượng bản chất chủng loại, đơn giá, tổng trị giá hàng hóa. + Các hãng vận tải hàng hóa XNK: Phát hành và lữu trữ chứng từ vận chuyển hàng hóa, hành trình của phương tiện vận tải, cước phí vận tải (để xác định trị giá hải quan và xuất xứ hàng hóa), biên bản hải sự, báo cáo tổn hại hàng hóa (để xem xét trường hợp tổn thất trị giá thương mại của hàng hóa là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc xét giảm số tiền thuế phải nộp thường dễ bị lợi dụng để gian lận tiền thuế). 11 + Các hãng bảo hiểm hàng hóa XNK: phát hành và nắm giữ các chứng từ bảo hiểm, phí bảo hiểm (một yếu tố cấu thành trị giá hải quan) và các chứng từ khác (Trị giá bảo hiểm, số tiền bảo hiểm) để xác định trị giá hải quan, mối quan hệ tương tác về thời gian ghi trên chứng từ bảo hiểm với thời gian ghi trên các chứng từ khác có ý nghĩa quan trọng trong nghiệp vụ xét đoán chứng từ.
+ Các ngân hàng thương mại: nắm giữ các chứng từ ghi nhận số tiền thực tế người mua đã chuyển trả cho người bán, để từ đó phân tích với nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa về hình thức thanh toán, phương thức thanh toán, thời điểm thanh toán là cơ sở để kiểm tra sự trung thực của trị giá mà doanh nghiệp khai báo với cơ quan hải quan. + Các cơ quan, tổ chức giám định hàng hóa: phát hành và nắm giữ các chứng từ giám định về hàng hóa như số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa là yếu tố xét đoán về trị giá khai báo, tổng trị giá của hợp đồng và là yếu tố thường được lợi dụng để gian lận trị giá khai báo và gian lận tiền thuế phải nộp.