CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Cơ sở hình thành, cơ sở pháp lý Kiểm tra sau thông quan 1. Một số khái niệm cơ bản Theo quy định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13 thì: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan. Trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên được xác định bằng cách áp dụng tuần tự sáu phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Điều 6, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá hải quan. Cơ sở hình thành hoạt động Kiểm tra sau thông quan Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Phát triển kinh tế thuận lợi hay khó khăn là do lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa kinh tế mang lại thông qua hoạt động thương mại để tận dụng lợi thế so sánh, của quá trình giao thương kinh tế của mỗi quốc gia.
Phát triển kinh tế đồng nghĩa với việc tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu, lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới, cửa khẩu cảng biển tăng lên nhanh chóng. Ngành Hải quan đã tăng cường nhiều nguồn lực về con người và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, tuy nhiên việc kiểm tra, kiểm soát hiệu quả đối với lượng hàng hóa lưu chuyển qua các cửa khẩu là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn. 15 Bên cạnh đó, thương mại quốc tế phát triển đã hình thành tổ chức thương mại song phương và đa phương như: Hiệp định thương mại Việt Mỹ, Hiệp định trị giá GATT/WTO, Hiệp định CEPT/AFTA… Các hiệp định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển, nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe cho các quốc gia thành viên tham gia hiệp định. Thực tế đó đã tạo ra sức ép lớn đối với nền kinh tế nói chung và ngành Hải quan nói riêng.
Mục tiêu thông quan được khối lượng hàng hóa phải kiểm tra, kiểm soát lớn; thời gian lưu trữ hàng hóa để kiểm tra tại cửa khẩu ngắn; Bên cạnh đó phải đảm bảo chống gian lận thương mại; đảm bảo phải thu đúng, thu đủ tiền thuế cho ngân sách nhà nước (NSNN). Trong khi đó để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ thì cơ quan hải quan lại đối mặt với thực tế khó khăn là thiếu thông tin về hàng hóa, trị giá hàng hóa khai báo hải quan, bên cạnh đó trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ công chức (CBCC) tại một số đơn vị vẫn còn hạn chế. Thời gian có hạn, CBCC không thể thực hiện kiểm tra toàn bộ hàng hóa mà chỉ có thể “kiểm tra đại diện” xác xuất thường không quá 10% lô hàng và các chứng từ do chủ hàng xuất trình, vì thế chỉ kiểm tra được một phần, phần chìm lại nằm ở các chứng từ, sổ sách kế toán, chứng từ ngân hàng,. do người nhập khẩu nắm giữ.
Kinh nghiệm tổ chức hải quan hiện đại trên thế giới cho thấy nếu chỉ dừng lại ở việc kiểm tra, kiểm soát của hải quan tại cửa khẩu thì không những không thể phát hiện và ngăn chặn được các trường hợp cố ý gian lận mà còn gây chậm trễ, ách tắc cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Theo quan điểm của Tổ chức hải quan thế giới (WCO): Trong điều kiện hiện nay, việc duy trì và phát triển hệ thống KTSTQ của ngành Hải quan là tuyệt đối cần thiết vì một hệ thống KTSTQ đủ mạnh có thể ngăn chặn và phát hiện mọi hình thức gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận về trị giá hải quan, cho dù hệ thống trị giá hải quan đó được xác định theo bất cứ phương pháp nào. Thực chất KTSTQ là việc kiểm tra tính xác thực của các thông tin do Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đã khai báo với cơ quan hải quan, việc kiểm tra đó được thực hiện thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, hồ sơ chứng từ ngân hàng, sổ sách kế toán lưu giữ tại doanh nghiệp… và các chứng từ khác có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu. Xuất phát từ yêu cầu 16 nghiệp vụ này mà Tổ chức hải quan thế giới và Hải quan các nước gọi nghiệp vụ này là "Kiểm toán sau thông quan" (Post Clearance Audit - PCA) hoặc "Kiểm toán hải quan", tại Việt Nam ta gọi là "Kiểm tra sau thông quan".
Cơ sở pháp lý của Kiểm tra sau thông quan Đứng trước yêu cầu thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham gia, năm 2001 Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, đã đặt nền móng cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra sau thông quan; Tại Điều 32 Luật Hải quan quy định: "Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp kiểm tra sau thông quan". Luật cũng quy định: "Trong quá trình kiểm tra, theo yêu cầu của cơ quan hải quan, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan tạo điều kiện, cung cấp chứng từ kế toán, các thông tin, tài liệu cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra của cơ quan hải quan". Năm 2014, Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014, đã được cụ thể hóa trong Mục 9 với 5 Điều từ Điều 77 đến Điều 82 quy định về Kiểm tra sau thông quan. Theo đó: "Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.
Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan. Kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan. Trụ sở người khai hải quan bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, cửa hàng, nơi sản xuất, nơi lưu giữ hàng hóa. Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan".
Luật Hải quan đã quy định rõ về các trường hợp "KTSTQ (Điều 78), việc KTSTQ tại trụ sở cơ quan hải quan và trụ sở người khai hải quan (Điều 79, Điều 80), về Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức 17 hải quan trong KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan (Điều 81), Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan trong KTSTQ (Điều 82)". Vai trò, mục đích của Kiểm tra sau thông quan 1. Vai trò của Kiểm tra sau thông qua Kiểm tra sau thông quan là mô hình đã được xây dựng và phát triển có hiệu quả ở hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới tuy có khác nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, môi trường pháp lý, đào tạo cán bộ,. Nhưng lại hoàn toàn giống nhau về chức năng cơ bản là phát hiện và ngăn chặn gian lận thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thông qua hoạt động KTSTQ.
Hiện nay, việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại cửa khẩu là rất ít (không quá 15% số lô hàng qua cửa khẩu, tỷ lệ kiểm tra hàng hóa theo lô hàng chủ yếu dưới 10%) chủ yếu tập trung phát hiện hàng hóa cấm XNK, hàng hóa bị hạn chế XNK. Thời gian kiểm tra tối đa của việc kiểm tra thực tế hàng hóa là 8 giờ, trường hợp đặc biệt gia hạn không quá 2 ngày. Việc kiểm tra bộ chứng từ trong quá trình thông quan cũng đã quy định tối đa là 2 giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận để giải quyết thủ tục thông quan. Do đó việc tăng cường hoạt động KTSTQ thay thế cho phương thức kiểm tra tại cửa khẩu có vai trò rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về hải quan: Thứ nhất, thực hiện được việc chống gian lận thương mại có hiệu quả hơn mà vẫn giải quyết được việc thông quan hàng hóa nhanh chóng tại các cửa khẩu góp phần tích cực vào phát triển thương mại quốc tế.
Thứ hai, đảm bảo việc chấp hành Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, các quy định về XNK của các Bộ, ngành liên quan và các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Thứ ba, giúp hoạt động sản xuất hàng hóa và nhập khẩu hàng hóa được thuận lợi hơn, đảm bảo cho doanh nghiệp trong nước có lợi thế để cạnh tranh với hàng hóa và doanh nghiệp của các nước khác trên thị trường quốc tế. Thứ tư, phát hiện và ngăn ngừa tình trạng gian lận và hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp. Thứ năm, ngăn chặn tình trạng gian lận và trốn thuế nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho NSNN.