PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn chủ đề của đề án Xăng dầu là nguồn năng lượng quan trọng để phát triển kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt với những nước có nền công nghiệp phát triển và đang phát triển như nước ta. Mặt hàng xăng dầu thực sự thiết yếu đối với hoạt động sản xuất, đời sống dân sinh và an ninh quốc phòng – là một trong những nhân tố đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước mà trong thời gian dài chưa thể thay thế. Việt Nam là quốc gia khai thác và xuất khẩu dầu thô nhưng vẫn phải nhập dầu thô về lọc là do chủng loại dầu thô trong nước không hoàn toàn phù hợp với các nhà máy hiện có (Việt Nam đang nhập khẩu hơn 30% nguồn cung xăng dầu thành phẩm, nhưng còn nhập một lượng lớn dầu thô (50%) làm nguyên liệu để phục vụ sản xuất xăng dầu tại 2 nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn; đáng chú ý Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn sử dụng 100% dầu thô nhập khẩu).
Theo đó, với nhu cầu tiêu dùng xăng dầu cả nước mỗi năm khoảng 20,5 – 21 triệu tấn, do Việt Nam nhập dầu thô, nên vẫn đang phải lệ thuộc vào thị trường thế giới. Như vậy tính ra, Việt Nam vẫn đang phải nhập trên dưới 70% xăng dầu nguyên liệu và xăng dầu thành phẩm từ các nước như Hàn Quốc, Singapore, và một số nước thành viên ASEAN. Kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nghiêm ngặt nhưng cũng là lĩnh vực mang lại lợi nhuận rất lớn cho những người tham gia thị trường. Cho đến thời điểm hiện nay, thị trường xăng dầu Việt Nam vẫn đang thuộc dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bởi chịu sự điều tiết sâu của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Cụ thể, đối với việc quản lý mặt hàng xăng dầu nhập khẩu, có 07 cơ quan gồm 05 Bộ (Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học công nghệ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và môi trường); Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng có trách nhiệm quản lý kinh doanh xăng dầu. Để ổn định thị trường xăng dầu trong nước, đảm bảo nguồn cung không bị gián đoạn, cơ quan Hải quan một mặt tạo thuận lợi khi thực hiện thủ tục hải quan và rút ngắn thời gian thông quan, kịp thời đưa xăng dầu vào lưu thông trên thị trường. Mặt khác, phối hợp với các cơ quan chức năng để kiểm tra, giám sát hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu của các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu; không để xăng dầu giả, xăng dầu kém chất lượng lưu thông trên thị trường. 2 Với vai trò “người gác cửa nền kinh tế”, bảo đảm chủ quyền quốc gia, ngoài công tác quản lý về hải quan, kiểm soát, ngăn chặn hoạt động buôn lậu, sản xuất, kinh doanh xăng dầu giả, kém chất lượng; nhiệm vụ quan trọng đặt ra với ngành Hải quan trong nhiều năm qua là phải thu đúng, thu đủ thuế vào ngân sách nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi thương mại, tạo điều kiện về thủ tục xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Bên cạnh đó, một trong những nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2030 là xây dựng mô hình hải quan thông minh theo hướng doanh nghiệp khai báo thủ tục hải quan mọi lúc, mọi nơi, trên mọi công cụ; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nắm bắt được toàn bộ tiến trình hàng hoá xuất nhập khẩu của mình được thông quan ở đâu, đến giai đoạn nào, vướng mắc phải xử lý; còn các cơ quan quản lý Nhà nước, trong đó có cơ quan Hải quan chủ động nắm bắt được toàn bộ thông tin ngay từ khi hàng hoá chưa hạ bãi, chưa đến cửa khẩu đã có thông tin để phân tích, đánh giá, quyết định kiểm tra, giám sát, xem xét điều kiện bắt giữ. Thực tế hoạt động quản lý xuất nhập khẩu đối với mặt hàng xăng dầu tại Tổng cục Hải quan cũng gặp không ít khó khăn do chính các quy định pháp lý cũng như đặc thù mặt hàng này. Do vậy, học viên đã lựa chọn đề án "Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan" để cung cấp cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phân tích thực trạng của công tác này và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án 2.
Mục tiêu Đề án cung cấp cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Từ đó nhận định rõ những khó khăn trong công tác này, nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu đưa ra cơ sở lý luật và cơ sở thực tiễn của việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu taị Tổng cục Hải quan: đưa ra các khái niệm liên quan đến xăng dầu và việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu. Nghiên cứu 3 kinh nghiệm quản lý mặt hàng xăng dầu tại một số nước và bài học kinh nghiệm cho Hải quan Việt Nam; - Nghiên cứu và phân tích thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan bao gồm các nội dung như: Các văn bản chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu, công tác kiểm tra, giám sát hải quan; công tác thu ngân sách; công tác chống buôn lậu đối với mặt hàng xăng dầu; - Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý thuyết, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý và thực trạng công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan, đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan.
Đối tượng và phạm vi của đề án a) Đối tượng nghiên cứu: Đề án tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. b) Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi về không gian: Đề án nghiên cứu trong phạm vi toàn ngành Hải quan. - Phạm vi về thời gian: Giai đoạn nghiên cứu về số liệu xăng dầu xuất nhập khẩu từ năm 2019 đến 2023. Quy trình và Phương pháp thực hiện đề án 4.
Quy trình thực hiện đề án Sưu tầm tài liệu, tổng hợp, phân tích, đối chiếu giữa nội dung phát sinh quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Từ đó nhận định những hạn chế và đề xuất các giải pháp phù hợp. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận: Phương pháp luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác Lê-Nin làm nền tảng trong nghiên cứu đề án. Phương pháp thu thập dữ liệu: Các thông tin, dữ liệu, số liệu trong đề án được thu thập từ các văn bản của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính và các bộ ngành có liên quan; các bài báo, các tài liệu liên quan đến đề án.
4 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Đề án đi từ phân tích thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Trên cơ sở đó sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra những đánh giá về thực trạng, những mặt đạt được và những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu tại Tổng cục Hải quan. Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của các thông tin đã thu thập được, đề án sử dụng phương pháp quy nạp, diễn dịch để đưa ra những đánh giá mang tính tổng quát về thực trạng quản lý hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu ở Tổng cục Hải quan, từ đó đề ra những giải pháp, đề xuất, kiến nghị. Kết cấu của đề án Đề án gồm ba phần: - Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án - Phần 2: Nội dung đề án - Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.
Các khái niệm cơ bản a) Khái niệm về mặt hàng xăng dầu Theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về Kinh doanh xăng dầu (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 95/2021/NĐ-CP ngày 01/11/2021 của Chính phủ) thì "Xăng dầu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình công nghệ chưng cất, chế biến dầu thô, chất thải và các nguyên vật liệu khác để tạo ra các sản phẩm dùng làm nhiên liệu, bao gồm: xăng, nhiên liệu diezen, dầu hỏa, dầu madút, nhiên liệu hàng không, nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu, không bao gồm các loại khí hóa lỏng và khí nén thiên nhiên." Theo định nghĩa về xăng dầu tại từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia (https://vi.org/wiki) thì: - Xăng là một chất lỏng dễ cháy có nguồn gốc từ dầu mỏ, được sử dụng chủ yếu làm nhiên liệu trong hầu hết các động cơ đốt trong. Nó bao gồm chủ yếu là các hợp chất hữu cơ thu được từ quá trình chưng cất phân đoạn dầu mỏ, được tăng cường với nhiều loại phụ gia; - Dầu là bất kỳ chất hoá học không phân cực nào dưới dạng chất lỏng nhớt ở nhiệt độ môi trường và kỵ cả nước và ưa béo pha lẫn với các loại dầu khác. Dầu có hàm lượng carbon và hydro cao, thường dễ cháy và là chất hoạt động bề mặt. Dầu có thể là động vật, thực vật hoặc hoá dầu có nguồn gốc, và có thể dễ bay hơi hoặc không bay hơi.
Chúng được sử dụng cho thực phẩm, nhiên liệu, mục đích y tế, dầu bôi trơn và sản xuất nhiều loại sơn, nhựa và các vật liệu khác. * Phân loại mặt hàng xăng dầu theo công dụng Tùy theo công dụng, xăng dầu được chia thành: Xăng động cơ; Dầu điêzen (DO); Dầu hỏa (KO); Dầu ma dút (FO); Nhiên liệu bay; Nhiên liệu sinh học * Phân loại mặt hàng xăng dầu theo mã HS (Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa) 6 Theo quy định của Bộ Công thương thì mã HS đối với xăng dầu được quy định tại phụ lục iv ban hành kèm theo Thông tư số 41/2019/TT-BCT ngày 16 tháng 12 năm 2019 của Bộ Công Thương. Theo đó thì mặt hàng xăng dầu được phân loại vào nhóm 27.09 “Dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum, ở dạng thô” và nhóm 27.