CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HẢI QUAN (KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN ) 1.1 Vài nét về lịch sử hình thành nghiệp vụ kiểm toán hải quan Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hội đồng hợp tác Hải quan nay là Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs Organization- WCO) đã bắt đầu nghiên cứu các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan. Cơ sở kiểm tra là các chứng từ hải quan, sổ sách kế toán và các giấy tờ khác còn lưu lại tại cơ quan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên liên quan khác về hàng hóa đã thông quan hay còn gọi bằng một thuật ngữ chuyên môn là “kiểm tra trên cơ sở kiểm toán”. Trên thực tế, Hải quan một số nước từ lâu đã áp dụng các biện pháp quản lý này khi tiến hành các cải cách về thủ tục hải quan, hiện đại hóa các quy trình thủ tục hải quan. Việc áp dụng biện pháp kiểm toán sau thông quan giúp cơ quan Hải quan tập trung vào việc chỉ kiểm tra những đối tượng trọng điểm có hoạt động xuất nhập khẩu không minh bạch.
Công ước Kyoto ngày 18/05/1973 về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan được xem là công ước sơ khai đầu tiên có những quy định về kiểm toán sau thông quan. Tuy nhiên mãi đến tháng 9 năm 1999, khi sửa đổi, bổ sung công ước Kyoto thì nghiệp vụ kiểm toán hải quan mới được tổ chức hải quan Thế giới chính thức đưa vào chương trình hoạt động nhằm nhanh chóng hoàn thiện và tiến tới áp dụng rộng rãi hệ thống kiểm tra hàng hóa sau khi thông quan nhằm tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thương mại quốc tế. - Những tiền đề của công tác kiểm toán hải quan ở Việt Nam Vào cuối những năm 1990, kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam đang là một vấn đề mới mẻ. Bởi vì từ trước đến nay chúng ta vẫn đang thực hiện chủ yếu là phương pháp quản lý hải quan truyền thống (lấy việc kiểm tra thực tế hàng hóa làm căn cứ chính để quản lý).
Việc làm này đã hạn chế quá trình thông quan hàng hóa của doanh nghiệp, gây ùn tắc và là nguồn gốc phát sinh tiêu cực, phiền hà. Kể từ năm 123doc 12 1999, ngành Hải quan đã từng bước cải cách thủ tục hải quan, đã áp dụng biện pháp tiên tiến về quản lý hải quan là “nguyên tắc quản lý rủi ro ” khi tiến hành kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu. Phương pháp quản lý rủi ro được thực hiện trong hoạt động quản lý hải quan là thay vì phải kiểm tra 100% toàn bộ lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu thì cơ quan hải quan áp dụng kiểm tra hàng hóa theo phân loại hàng hóa ra thành nhiều luồng khác nhau theo từng tính chất, chủng loại, mức độ rủi ro cao hay thấp về gian lận thương mại, trốn thuế. Cụ thể là phân theo: “Luồng xanh” kiểm tra đại diện 5% lô hàng (hiện nay là miễn kiểm tra); “Luồng vàng” kiểm tra từ 20-30% lô hàng (hiện nay kiểm đến 10% lô hàng); “Luồng đỏ” kiểm tra 100% lô hàng (hiện nay kiểm tra đến toàn bộ).
Khi ngành hải quan áp dụng biện pháp này đã giảm đáng kể việc kiểm tra thực tế hàng hóa XNK trong quá trình thông quan hay nói một cách khác là giảm biện pháp tiền kiểm, thì đồng thời tăng cường các biện pháp kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan, nghĩa là tăng cường biện pháp “hậu kiểm”. Đó là nguyên nhân hình thành nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam. Kiểm tra sau thông quan được chính thức hoạt động kể từ khi Luật Hải quan có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2002 1. Khái niệm về kiểm tra sau thông quan ( Kiểm toán hải quan) Tổ chức Hải quan thế giới ( Word Customs Organization – WCO ) và Hải quan các nước gọi là Kiểm toán sau thông quan ( Post Clearance Audit – PCA) hoặc Kiểm toán hải quan (Customs Audit).
Việt Nam hiện nay gọi là kiểm tra sau thông quan. Do vậy các cụm từ “Kiểm tra sau thông quan”, “Kiểm toán sau thông quan”, “Kiểm toán hải quan”, đều có ý nghĩa như nhau. - Theo tổ chức Hải quan thế giới (WCO): “KTSTQ là quy trình công tác cho phép viên chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ” 123doc 13 Theo Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới: Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được cơ quan hải quan tiến hành nhằm thỏa mãn mục đích của họ trong việc xác định tính xác thực và chân thật của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan. Trong tài liệu do APEC biên soạn cho các nước đang triển khai thực hiện Hiệp định trị giá GATT thì định nghĩa “ Kiểm toán sau thông quan là một quá trình nhằm tạo điều kiện cho các nhân viên Hải quan kiểm tra độ chính xác trong khai báo hải quan, thông qua việc kiểm tra các số sách, hồ sơ lưu trữ, hệ thống kinh doanh và tất cả các dữ liệu thương mại về hải quan liên quan do các cá nhân, công ty trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế nắm giữ.” Tại Việt Nam: điều 32 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung năm 2005 thì KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, hoặc tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan.
KTSTQ đồng thời cũng là thẩm định tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy kiểm tra sau thông quan được hiểu là việc tiến hành công tác kiểm toán sau khi tiếp nhận khai báo và kết thúc thủ tục giải phóng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu khỏi khu vực quản lý của hải quan. Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan, cơ quan quản lý nhà nước về hải quan có quyền ra quyết định KTSTQ đối với những hàng hóa có dấu hiệu gian lận thuế, gian lận thương mại, vi phạm quy định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hoặc thẩm định sự tuân thủ pháp luật đối với hàng hóa đã được thông quan nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch, lành mạnh trong cạnh tranh đối với sản xuất, lưu thông hàng hóa. Để thực hiện các cuộc kiểm tra sau thông quan này công chức Hải quan phải vận dụng các kiến thức chuyên ngành như: Thương mại quốc tế, Kế toán - kiểm toán, 123doc 14 Tin học, ngoại ngữa và các nghiệp vụ về hải quan… trên tư duy về kiểm toán để phát hiện sai sót, gian lận trong hoạt động xuất nhập khẩu 1.
Đối tượng của KTSTQ KTSTQ tiến hành kiểm tra các cá nhân, doanh nghiệp có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kinh doanh XNK đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Không phân biệt thành phần kinh tế, nguồn vốn sở hữu cũng không phải chờ đợi sự thỏa thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp. Đặc điểm này làm cho kiểm toán hải quan khác hẳn với các loại hình kiểm toán khác: - Kiểm toán Nhà nước chỉ có quyền kiểm tra các đơn vị có liên quan đến quá trình quản lý, sử dụng vốn của ngân sách nhà nước. -Kiểm toán độc lập chỉ thực hiện kiểm toán theo các hợp đồng đã ký kết với đối tượng kiểm toán - Kiểm toán nội bộ do đơn vị tổ chức ra và chỉ được phép kiểm tra các hoạt động của chính đơn vị đó.
Như vậy đối tượng KTSTQ gồm các chủ thể liên quan đến hoạt động kinh doanh XNK và hệ thống sổ sách, chứng từ.1 Các chủ thể Để xác minh tính chính xác của việc khai hải quan, KTSTQ sẽ kiểm tra và thu thập thông tin từ các cá nhân, đơn vị sau: - Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh XNK gồm doanh nghiệp hoặc cá nhân. - Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động XNK, bao gồm: + Các đại lý khai thuê hải quan. + Các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác. + Các doanh nghiệp kho vận ngoại thương.
+ Các hãng vận tải hàng hóa XNK. + Các hãng bảo hiểm hàng hóa XNK. + Các ngân hàng thương mại. + Cơ quan thuế nội địa.
+ Người mua hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. 123doc 15 + Các cơ quan, tổ chức giám định hàng hóa,…. Trong số những đối tượng KTSTQ nêu trên, đối tượng chính của KTSTQ là các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh XNK đó chính là những nhà xuất nhập khẩu. Khi quá trình kiểm tra để xác minh về người nhập khẩu gặp khó khăn, chẳng hạn như thiếu các chứng từ, KTSTQ sẽ được tiến hành với các đối tượng KTSTQ khác nhằm hoàn tất việc xác minh việc khai báo hàng hóa nhập khẩu.
Trên thực tế, các đối tượng có liên quan gián tiếp đến thương mại quốc tế thường lưu giữ những chứng từ rất có giá trị cho KTSTQ. Ví dụ như: một bức điện chuyển tiền liên ngân hàng, một chứng từ bảo hiểm, một chứng thư giám định, một phiếu thu tiền vận chuyển, một chứng từ mua hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa….là có thể có căn cứ xác định và kết luận một cuộc KTSTQ.