CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Cơ sở lý luận về tôn giáo. Khái niệm tôn giáo.
Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo. Chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
Điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư và tình hình tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh. Điều kiện tự nhiên. Đặc điểm dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh. Tình hình tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh.
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1990-2010. Chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đối với công tác tôn giáo thời kỳ trước năm 1990. Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác tôn giáo từ năm 1990 – 2000. Chủ trương, đường lối của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đối với công tác tôn giáo.
Triển khai thực hiện công tác tôn giáo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh. Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác tôn giáo từ năm 2001- 2010. Chủ trương, đường lối của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đối với công tác tôn giáo. Triển khai thực hiện công tác tôn giáo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh.
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (1990-2010) – BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ. Đánh giá chung về thành tựu và hạn chế của công tác tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1990-2010. Những thành tựu. Những hạn chế.
Một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác tôn giáo của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh. Một số bài học kinh nghiệm. Một số kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Cơ sở lý luận về tôn giáo 1. Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua. Bất cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó, cũng đều bao gồm: ý thức tôn giáo và hệ thống tổ chức tôn giáo có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội được tổ chức chặt chẽ cùng với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó. Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể, xác định.
Về bản chất, Mác – Anghen cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, với một mức độ nhất định, tôn giáo có vai trò tích cực, chứa đựng nhiều giá trị phù hợp với văn hoá, đạo đức xã hội, đạo lý con người như: đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người….Vì vậy, tôn giáo còn là niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng nhân dân. Trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo xuất hiện từ rất sớm. Tôn giáo ra đời bởi nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng cơ bản là từ các nguồn gốc kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý.
Khi con người bất lực trước sức mạnh của tự nhiên, của xã hội thì họ đặt hy vọng vào những lực lượng siêu nhiên. Đối với hiện tượng tự nhiên, xã hội không thể giải thích được bằng khoa học người ta có thể giải thích bằng tôn giáo. Tôn giáo góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn, xoa dịu nỗi đau của con người. Do đó, khi còn người còn bất lực, bế tắc trước tự nhiên và xã hội thì người ta sẽ tìm đến tôn giáo và tin vào tôn giáo lâu dài.
Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại do các nguyên nhân khác nhau. Cụ thể như: 7 - Nguyên nhân nhận thức: Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn còn nhiều hiện tượng tự nhiên, xã hội và của con người mà khoa học chưa lý giải được. Do đó, trước những sức mạnh của giới tự nhiên và xã hội mà con người vẫn chưa thể nhận thức và chế ngự được, một bộ phận nhân dân sẽ đi tìm sự an ủi, che chở và lý giải chúng từ sức mạnh của thần linh, các đấng siêu nhiên. - Nguyên nhân kinh tế: Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khác nhau của các giai cấp, tầng lớp xã hội.
Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vẫn còn diễn ra. Sự cách biệt về đời sống vật chất, tinh thần giữa các nhóm dân cư còn tồn tại phổ biến. Những yếu tố may rủi, ngẫu nhiên vẫn tác động đến cuộc sống con người, làm cho con người xuất hiện tư tưởng nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên. - Nguyên nhân tâm lý: Tín ngưỡng, tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử nhân loại và đã trở thành niềm tin, lối sống, phong tục tập quán, tình cảm của một số bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ.
Bởi vậy, cho dù trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã có những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị - xã hội, song tôn giáo vẫn không thể biến đổi ngay cùng với tiến độ của những biến đổi kinh tế - xã hội. Điều đó cho thấy, trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, ý thức xã hội thường có tính bảo thủ hơn so với sự biến đổi của tồn tại xã hội, trong đó ý thức tôn giáo thường là yếu tố mang tính chất bền vững nhất trong đời sống tinh thần của mỗi con người, của xã hội. -Nguyên nhân chính trị - xã hội: Trong các nguyên tắc tôn giáo có những điểm còn phù hợp với CNXH. Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đồng thời phát triển theo xu hướng đồng hành với dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo.
-Nguyên nhân văn hóa: Trong thực tế xã hội, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội và trong một mức độ nhất định, có ý nghĩa giáo dục ý thức cộng đồng, phong cách, đạo đức lối sống của cá nhân con người trong cộng đồng. Về phương diện sinh hoạt văn hóa, 8 tôn giáo thường được thực hiện dưới hình thức là những nghi lễ tín ngưỡng cùng với những lời răn theo chuẩn mực đạo đức phù hợp với quan niệm của mỗi loại tôn giáo. Những sinh hoạt văn hóa có tính chất tín ngưỡng, tôn giáo ấy đã thu hút một bộ phận quần chúng nhân dân xuất phát từ nhu cầu đời sống tinh thần, tình cảm của họ. Như vậy, do những nguyên nhân khác nhau, tôn giáo sẽ vẫn còn tồn tại lâu dài.
Tuy nhiên, cùng với tiến trình phát triển của lịch sử, tôn giáo cũng có những biến đổi do sự tác động của những điều kiện kinh tế - xã hội. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề tôn giáo Nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong ba phát minh quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tôn giáo là một trong những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này. Nó thể hiện thông qua các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cả bản chất, nguồn gốc lẫn chức năng của tôn giáo. Trong khi các nhà duy tâm, thần học cho rằng tôn giáo có nguồn gốc siêu nhiên, thế giới tự nhiên, xã hội loài người cũng như toàn bộ hoạt động của mỗi cá nhân con người đều chịu sự chi phối, điều khiển của các lực lượng siêu nhiên, thần thánh thì các nhà duy vật, vô thần đã có quan điểm hoàn toàn đối lập.Phoiơbắc - nhà triết học duy vật người Đức đã khẳng định rằng, không phải thần thánh sáng tạo ra con người mà con người sáng tạo ra thần thánh theo hình mẫu của mình: “Thượng đế siêu hình không phải là cái gì khác mà là sự tập hợp, là toàn bộ những đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con người, nhờ vào sức tưởng tượng… lại đem giới tự nhiên biến thành một chủ thể hay một thực thể độc lập”[54, tr.
Tuy nhiên, Phoiơbắc chưa chỉ ra được bản chất thực sự của tôn giáo. Ông vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm, chưa đề cập đến những điều kiện hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo. Thậm chí, ông còn cho rằng người ta vẫn rất cần một thứ tôn giáo khác thay thế, đó là “tôn giáo tình yêu” để xoá bỏ đi những áp bức, bất công trong xã hội. Kế thừa và vượt lên trên quan điểm của Phoiơbắc và các nhà duy vật trước đó, chủ nghĩa Mác- Lênin đã đứng trên lập trường duy vật lịch sử để phân tích vấn đề bản chất của tôn giáo.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định. Mặc dù có tính độc lập tương đối nhưng mọi 9 hiện tượng trong đời sống tinh thần, xét đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất. Tôn giáo là một hiện tượng tinh thần của xã hội, là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Khác với những hình thái ý thức xã hội khác, sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực là sự phản ánh đặc thù, đó là sự phản ánh “hoang đường” thế giới khách quan.Ăngghen, “tôn giáo là những sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nội dung đó sang cho bóng ma.
Thượng đế ở bên kia thế giới, Thượng đế này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệ của mình”.