Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Phật. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Phật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Phật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO PHẬT 1. Một số khái niệm liên quan đến luận văn 1. Tín ngưỡng Theo từng góc độ tiếp cận, có nhiều khái niệm tín ngưỡng khác nhau được đưa ra. Ở phương Tây, tín ngưỡng được hiểu là một tôn giáo chưa hoàn chỉnh, mang tính độc lập và ở cấp độ thấp hơn tôn giáo.
Ở phương Đông thuật ngữ tín ngưỡng thể hiện ở hai nội dung tin tưởng và ngưỡng mộ. Theo đó tín ngưỡng là việc cộng đồng người có niềm tin, ngưỡng mộ về hệ thống các yếu tố mang tính linh thiêng được hình thành trong tiến trình lịch sử. Việt Nam là quốc gia xuất phát từ nền văn minh lúa nước, nên cách tiếp cận về tín ngưỡng có nét tương đồng với quan điểm về tín ngưỡng ở phương Đông. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tín ngưỡng được định nghĩa là: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”.
[39] Như vậy, tín ngưỡng có thể hiểu là niềm tin mang tính linh thiêng, ca ngợi về những biểu tượng, giá trị văn hóa tích cực, đạo đức cao đẹp, đặc biệt là lòng biết ơn của người đi sau đối với người đi trước, của nhân dân đối với các vị anh hùng. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 1. Khái niệm tôn giáo Hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau về tôn giáo. Có quan niệm duy tâm, thần học, cũng có quan niệm duy vật, biện chứng, ngay ở nước ta việc đưa ra khái niệm tôn giáo cũng rất khác nhau do 12 tính đa dạng, phong phú của các tôn giáo.
Các khái niệm, định nghĩa tôn giáo thường đưa ra những lí lẽ diễn giải về vai trò của tôn giáo trong xã hội. Dưới góc độ thần học, P.Phlorensky cho rằng: “nếu xét về mặt bản thể luận, tôn giáo là sự sống của chúng ta, thì xét về mặt hiện tượng học, thì tôn giáo là hệ thống những hành vi và cảm xúc đảm bảo sự giải thoát, cứu rỗi tâm hồn, nói cách khác, sự giải thoát hiểu theo nghĩa tâm lý học rộng nhất của từ này là cân bằng của đời sống tinh thần” [27, tr. Dưới góc độ triết học, Ph.Ăngghen đưa ra định nghĩa tôn giáo như sau: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ có sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [27, tr. Các nhà nghiên cứu Mácxít về tôn giáo thường coi câu nói của Ăngghen là định nghĩa của Chủ nghĩa Mác về tôn giáo.Mác: “tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm ra được bản thân mình, hoặc để mất bản thân mình một lần nữa.
Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy, sản sinh ra tôn giáo, tức là thế giới quan lộn ngược” [28, tr. Tôn giáo (tiếng Latinh - Religio) đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối tượng được sùng bái.
Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa “tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh” [29, tr. Ở Việt Nam cho đến nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo như: Theo từ điển tiếng việt “tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng tôn thờ” [49, tr. 13 Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tôn giáo được quy định tại Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức” [39]. Mặc dù giải thích các khái niệm này khá phức tạp, thậm chí không có sự thống nhất.
Tuy nhiên nói đến tôn giáo hoàn chỉnh không thể không nói đến một số dấu hiệu cơ bản sau: cộng đồng người có chung niềm tin vào một thế lực thiên thần hay nhân thần nào đó; có hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ và có tổ chức giáo hội, đội ngũ chức sắc, nhà tu hành và lực lượng tín đồ đông đảo. Từ sự phân tính trên, có thể hiểu tôn giáo là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp thuận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, giáo lý những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau. Như vậy đối tượng quản lý của tôn giáo, theo điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm: Thứ nhất, Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận.
Thứ hai, Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. Thứ ba, Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức. 14 Thứ Tư, Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo. Thứ năm, Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp của tổ chức tôn giáo.
Hoạt động tôn giáo Theo Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [39]. Theo quy định trên thì hoạt động tôn giáo gồm 3 nội dung cụ thể như sau: Thứ nhất, hoạt động truyền bá tôn giáo. Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những quan niệm, lý lẽ về vũ trụ, về nhân sinh, những hành vi phải tuân phục vào lịch sử của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ của tôn giáo được các tín đồ thực hiện.
Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo có vai trò dẫn dắt xây dựng niềm tin và trở thành người theo tôn giáo. Vậy hoạt động truyền đạo chính là để củng cố và phát triển tín đồ. Việc truyền đạo phải tuân thủ các quy định của pháp luật như: tổ chức truyền đạo phải là tổ chức được nhà nước công nhận, người truyền đạo phải là tu sỹ hợp pháp, phương tiện truyền đạo phải được nhà nước thừa nhận, nội dung và phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tôn giáo đó. Thứ hai, sinh hoạt tôn giáo.
Thực hành giáo luật, nghi lễ (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, chức sắc nhà tu hành tôn giáo thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt những quy định, phép tắc, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ. Thứ ba, quản lý tổ chức của tôn giáo. Hoạt động quản lý hành chính đạo của giáo hội tôn giáo thực hiện các quy định của pháp luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Mê tín dị đoan Thuật ngữ “mê tín” được dùng để biểu đạt cho trạng thái tin vào điều gì đó ở mức độ mê muội hoặc đã làm cho người ta tin vào một cách mê muội.
Thuật ngữ “Dị đoan” được hiểu là hiểu sai và làm sai so với cái chính thống. Vì vậy mê tín dị đoan là tin một cách mê muội vào điều không chính thống hay điều không chính thống đó đã làm cho người ta tin một cách mê muội, mù quáng, không có cơ sở. Mê tín dị đoan thường được dùng nhiều trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo. Mê tín dị đoan được hiểu là có niềm tin vào những thứ nhảm nhí, mơ hồ, không có thật và không phù hợp với quy luật tự nhiên, chủ yếu xuất hiện trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo và dẫn tới những hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình và xã hội về thời gian, tài sản, sức khỏe thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng con người.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Nghiên cứu về quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên phần lớn các học giả tiếp cận khái niệm này theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình dùng quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật, nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý nhà nước [3, tr. Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp bao gồm (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật [3, tr.