Chương 1. TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo Tìm hiểu và nghiên cứu lý luận về tôn giáo là một chủ đề được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu ở nước ta hết sức quan tâm, có thể khái quát qua một số các công trình sau: Sách tham khảo: “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”của tác giả Đặng Nghiêm Vạn.
Nội dung cuốn sách luận bàn về đối tượng của tôn giáo thông qua phân tích thuật ngữ tôn giáo; diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại, diễn biến của những định nghĩa về bản chất tôn giáo [148, tr. Cuốn sách cũng chỉ ra những yếu tố cấu thành một hình thức tôn giáo gồm: tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo; nội dung tôn giáo; hành vi và nghi lễ tôn giáo; tổ chức tôn giáo và vấn đề mê tín, hủ tục [149, tr. Tác giả cũng phân tích về nhu cầu, vai trò và diễn biến tôn giáo trong đời sống xã hội; khái quát quát về tình hình tôn giáo và đặc trưng, vai trò của các tôn giáo ở Việt Nam [156, tr. Nhìn từ khía cạnh triết học, tác giả Chu Văn Tuấn bài viết về “Giá trị tôn giáo từ phương diện triết học”, đã cho thấy, tôn giáo có nhiều giá trị khác nhau như: đạo đức, giáo dục, văn hóa lịch sử,.
Dưới góc độ triết học, tôn giáo có giá trị thế giới quan và nhân sinh quan, thể hiện: tôn giáo có một hệ thống quan niệm về vũ trụ và vạn vật, trong đó có con người. Tôn giáo cũng đưa ra cách lý giải về quá trình hình thành và phát triển của thế giới, nguyên nhân của những mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới, đó chính là giá trị thế giới quan của tôn giáo. Bên cạnh đó, tôn giáo đưa ra một hệ thống quan niệm về con người, về cuộc đời của con người, về ý nghĩa của cuộc sống con người, tương tự triết học, tôn giáo cũng trả lời các câu hỏi: con người được sinh ra từ đâu? sau khi chết, con người sẽ về đâu? ý nghĩa cuộc sống của con người là gì? đây chính là giá trị nhân sinh quan của tôn giáo [143, tr. Đề cập tới mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, tác giả Ngô Hữu Thảo trong bài viết: “Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã khái quát và phân tích khá rõ nét về mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo qua các giai đoạn thời kỳ lịch sử của xã hội loài người.
Nghiên cứu mối quan hệ này, theo tác giả: cả chính trị và tôn giáo đều có có xu thế thâu tóm nhau, nhưng thực tế là chia sẻ cho nhau về mặt 10 luan an quyền lực; về mặt lịch sử có thể xuất hiện tôn giáo thuần túy, tuy nhiên logic là không thể; nếu vị trí nhà nước cao hơn vị trí tôn giáo thì giáo hội phải phục tùng, ủng hộ nhà nước; có những nhà nước mặc dù quy định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo nhưng vẫn thiên vị một tôn giáo nào đó, không phủ nhận các tôn giáo khác để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc [123, tr. Nghiên cứu về chính sách tôn giáo quốc tế, tác giả Phạm Hồng Thái, đã khái quát và phân tích quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II; những ảnh hưởng của lực lượng quân Đồng minh tới chính sách tự do tôn giáo, chính sách nhà nước và tôn giáo phân ly và chính sách triệt để loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc [121, tr. Nghiên cứu về lý luận tôn giáo của tác giả Nguyễn Thị Bạch Tuyết qua bài viết: Tôn giáo và an ninh xã hội ở khu vực Đông Nam Á, đã khái quát về những cơ hội và thách thức, tình hình kinh tế xã hội và chính trị - an ninh ở khu vực Đông Nam Á. Qua các dẫn chứng cụ thể cho thấy, tôn giáo có vai trò quan trọng trong việc ổn định trật tự an ninh xã hội ở Đông Nam Á [146, tr.
Tác giả khẳng định: “các tôn giáo ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc góp phần bảo đảm an ninh xã hội với tinh thần chia sẻ nhân ái và khoan dung. Phương cách tốt nhất là chia sẻ thông tin và hiểu biết lẫn nhau thông qua đối thoại để tìm ra các giải pháp thích hợp giải quyết bất đồng, tránh sự xung đột nhằm xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, thịnh vượng và cùng phát triển”[146, tr. Tìm hiểu về lịch sử tôn giáo Hoa Kỳ, Catherine L.Albanese trong cuốn sách: “Các tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ” đã khái quát về tình hình TNTG lục địa Bắc Mỹ. Cuốn sách cho thấy, mỗi bộ lạc người Indian trên mảnh đất này trước khi người Châu Âu đặt chân đến đều có tín ngưỡng riêng [157, tr.
Sau này, người di cư lại mang theo tôn giáo và tín ngưỡng của mình từ Cựu thế giới đến miền đất mới. Người Châu Âu mang đến đạo Do Thái, Công giáo La Mã và đạo Tin lành, người Châu Phi và Châu Á mang đến đạo Hồi, đạo Phật, đạo Hindu cùng nhiều tín ngưỡng khác, góp phần làm cho các TNTG mới phát triển và tô điểm thêm bức tranh văn hóa phong phú, đa dạng ở lục địa này [157, tr. Nghiên cứu của tác giả Lữ Vân qua cuốn sách: “Tôn giáo ở Trung Quốc, 100 câu hỏi và trả lời”, cho thấy TNTG là vấn đề cá nhân của các công dân Trung Quốc và với việc loại bỏ các tàn dư của “Cách mạng Văn hóa 1966-1976”, quan niệm chung hiện nay 11 luan an là lợi ích cơ bản của những người theo hoặc không theo một tôn giáo nào là thống nhất trên cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế. Sách đã giúp độc giả thấy được một số nét cơ bản về các tôn giáo ở Trung Quốc, lịch sử và hiện trạng, có những lời giải thích về chính sách tôn giáo của Trung Quốc, quan điểm hiện nay về tôn giáo trong giới học thuật và nhiều vấn đề khác liên quan tới Công Giáo ở Trung Quốc [173, tr.
Nghiên cứu của tác giả Ngô Hữu Thảo trong cuốn sách: “Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt Nam”, đã làm sáng tỏ một số những cơ sở lý luận quan điểm của duy vật lịch sử về nguồn gốc tôn giáo, quan điểm của C.Mác về vai trò của tôn giáo; những quan điểm của Ph.Ăngghen về vấn đề tôn giáo qua một số tác phẩm kinh điển. Theo nghiên cứu tác giả, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Quyền tự do TNTG ở Việt Nam chỉ có thể được đảm bảo khi gắn liền, hữu cơ với nền độc lâp tự do dân tộc của tổ quốc; quyền tự do TNTG chỉ được đảm bảo trong mối quan hệ với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và với khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đảm bảo quyền tự do TNTG trước hết là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng và Nhà nước là nhân tố quan trọng hàng đầu [124, tr. Nghiên cứu của tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ trong cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo và công tác tôn giáo” đã góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Qua nội dung các bài viết, các tác giả đã làm sáng tỏ hơn về những tư tưởng của Bác về các vấn đề: mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã hội; những vấn đề phương pháp luận; về đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; về mối quan hệ giữa tôn giáo với CNXH; về mối quan hệ giữa dân tộc với tôn giáo [109, tr.
Cuốn sách đã cung cấp cho đọc giả góc nhìn toàn diện, đa chiều, đầy đủ những tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, là cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng những quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo. Đây cũng là những tư liệu quý cho việc vận dụng vào thực tiễn QLNN đối với các hoạt động tôn giáo ở nước ta. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Dương Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về TNTG; quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo qua các Cương lĩnh, Văn kiện, Nghị quyết của Đảng từ thời kỳ đổi mới đến nay [62, tr. Nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các tổ chức tôn giáo ở nước ta hiện nay [62, tr.
12 luan an Công trình nghiên cứu của Phạm Hữu Xuyên trong đề tài: “Quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo” cho thấy: “theo Hồ Chí Minh tự do tín ngưỡng thực sự chỉ có được khi đất nước được độc lập. Nói cách khác tự do tín ngưỡng phải gắn với lợi ích của cả dân tộc, tự do tín ngưỡng không phải để duy trì và biện hộ cho quan hệ thống trị giai cấp”[155, tr.57] và “Quyền tự do tín ngưỡng là quyền dân chủ, được pháp luật thừa nhận, cũng như các quyền khác; quyền phải gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”[155, tr. Luận án đã tìm hiểu quan điểm đoàn kết lương giáo; quan điểm ứng xử khoan dung với tôn giáo và quan điểm đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh. Nghiên cứu của tác giả Lưu Ngọc Khải về: “Đảng và Nhà nước đổi mới chính sách Tôn giáo - Phát huy truyền thống Đại đoàn kết các dân tộc”, đã cho thấy những đổi mới trong nội dung Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo được thể hiện qua các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo từ Đại hội VI của Đảng đến nay.
Với những đổi mới về quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về TNTG đã đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tôn giáo và tín đồ theo đạo, để đồng bào, tín đồ, chức sắc tôn giáo hòa hợp cộng đồng, dân tộc làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc [93, tr4-7].