Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẾ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1. Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm tôn giáo Xét theo khía cạnh ngôn ngữ học và lịch sử, thuật ngữ “tôn giáo” khá mới trong hệ thống tiếng Việt, đây là một thuật ngữ được du nhập từ phương Tây vào nước ta khoảng nửa cuối thế kỷ XIX. Tôn giáo được xem xét và nghiên cứu dưới nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau, do đó, khái niệm tôn giáo được đưa ra tùy theo mục đích, lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu.
Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh. Tuy nhiên, hiện tại chưa có sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cấu thành một tôn giáo. Ngoài ra, các nghiên cứu theo mục đích và lĩnh vực khác nhau cũng có các quan niệm khác nhau về tôn giáo, xin được trích dẫn một số khái niệm đã được GS. Đặng Nghiêm Vạn đưa ra [5]: - Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”. - Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”. 9 Luan van - Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”. - Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” Từ các khái niệm đa dạng trên, có thể thấy điểm chung được thể hiện qua việc coi tôn giáo là một khái niệm mang tính trừu tượng, là hiện thân của một thế giới tinh thần, đôi khi mang tính thiêng liêng, huyền bí, được nắm bắt bằng cảm giác, được đề cập bằng đức tin và thường được tôn trọng, tôn thờ.
Xét theo quan điểm của quản lý nhà nước, đúc kết các khái niệm khác nhau được nêu bên trên, luận văn định nghĩa tôn giáo trên quan điểm hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo, do đó tôn giáo có thể được định nghĩa là hình thái ý thức xã hội, được duy trì và củng cố thông qua các giáo lý, lễ nghi, đối tượng tôn thờ và có tính tổ chức. Khái niệm chính sách công Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,.
Chính sách công có thể được hiểu là hướng dẫn nguyên tắc cho hành động được thực hiện bởi các cơ quan hành pháp của nhà nước liên quan đến một nhóm các vấn đề, theo cách phù hợp với pháp luật và thiết chế xã hội. Chính sách công cũng đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như: - Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971) [6] 10 Luan van - Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B. Guy Peter, 1990) [6] - Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B. Guy Peters, 1999) [6] Các khái niệm được TS Đặng Ngọc Lợi trích dẫn tuy khác nhau, song vẫn có chung một xuất phát điểm đó là vai trò của Nhà nước.
Chính sách công, có thể được hiểu là tập hợp các quyết định có hiệu lực pháp lý, mang tính định hướng do nhà nước ban hành, và tổ chức triển khai các kế hoạch, mục tiêu để chính sách phát huy hiệu quả mong muốn. Dù chưa có định nghĩa thống nhất về chính sách công, nhưng các định nghĩa khác nhau đều nhất trí về những đặc điểm cơ bản của chính sách công. Một là, chính sách công là các hành động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước là chủ thể duy nhất ban hành và thực thi chính sách trên cơ sở sử dụng quyền lực pháp lý, chính trị và nguồn lực của nhà nước.
Do chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước nên chính sách công thường được hiểu là chính sách của nhà nước, song, không phải mọi chính sách của cơ quan trong bộ máy nhà nước đều là chính sách công. Các chính sách được các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành và thực hiện nhằm điều tiết các hoạt động và giải quyết các vấn đề chỉ thuộc nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành hay tác động ngoài phạm vi cơ quan không phải là chính sách công, mà là “chính sách tư” hay “chính sách nội bộ”. Hai là, chính sách công được xây dựng và thực thi nhằm giải quyết một vấn đề công theo những mục tiêu đã xác định. Thực chất, chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề công hay đáp ứng một nhu cầu thiết yếu nào đó của xã hội.
Từ “công” ở trên được hiểu theo nghĩa là 11 Luan van số đông hay cộng đồng hoặc xã hội. Vì thế, một vấn đề chỉ trở thành vấn đề công khi nó có ảnh hưởng hoặc là mối quan tâm của số đông hay cộng đồng hoặc xã hội. Ba là, chính sách công là tập hợp các quyết định. Chính sách công là một tập hợp quyết định bao gồm cả dự định và hành động (hành động thực tiễn).
Các quyết định ở đây có ý nghĩa rộng có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, các chương trình dự án là giải pháp cho vấn đề chính sách. Bốn là, chính sách công là quyết định về việc lựa chọn có làm hay không làm việc gì đó. Lựa chọn chính sách công là đưa ra quyết định “làm” một số việc hoặc quyết định “không làm” một số việc. Cả hai loại quyết định này đều quan trọng và có ý nghĩa như nhau.
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu về chính sách công như sau: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau của các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó trên cơ sở có những tính toán và chủ đích rõ ràng nhằm giải quyết một vấn đề hay đáp ứng một nhu cầu thiết yếu của thực tiễn xã hội. Tóm lại, về bản chất, (1) Chính sách công là công cụ điều hành được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử dụng để theo đuổi lợi ích công cộng; (2) Chính sách công là kết quả của việc nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình định hướng sự vận động và phát triển của cả hệ thống xã hội; (3) Chính sách công là quá trình thể chế hóa các mục tiêu tổng thể mà nhà nước theo đuổi; (4) Chính sách công là kết quả của quá trình đấu tranh quyền lực giữa các bên có liên quan. Mặc dù, chính sách công là do nhà nước ban hành và tổ chức thực thi, song nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có ảnh hưởng đến chính sách. Thực tế, chính sách chịu ảnh hưởng của các chủ thể khác như là người dân, các tổ chức, các nhóm lợi ích, giới chuyên gia và truyền thông.
12 Luan van Nhìn chung, chính sách và quá trình chính sách mang tính chính trị thể hiện ở các điểm chính sau. Một là, chính sách công là sự thể hiện, phản ánh quan điểm và thái độ chính trị của Đảng cầm quyền. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Mặc dù Đảng không ban hành chính sách, song chủ trương, cương lĩnh và chiến lược của Đảng là căn cứ quan trọng định hướng chính sách và quá trình chính sách. Hai là, chính sách công thể hiện bản chất của nhà nước thông qua mối quan hệ giữa người dân với nhà nước. Có thể nói, chính sách công là thước đo phản ánh khá chính xác về bản chất của nhà nước và mối quan hệ giữa người dân với nhà nước ở mức độ mà nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân được thể hiện qua ý chí của nhà nước dưới hình thức là các mục tiêu chính sách. Ba là, chính sách công đơn giản là sản phẩm hoạt động của bộ máy nhà nước, mà nó còn là kết quả của sự đấu tranh quyền lực giữa các bên có liên quan.
Trong quá trình chính sách, các nhóm chủ thể sử dụng quyền lực mà họ có được để ảnh hưởng, chi phối đến chính sách và quá trình chính sách nhằm theo đuối các ý tưởng, giá trị, động cơ và mục tiêu của họ. Bốn là, chính sách công giúp củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Khi mà quá trình chính sách là sự thống nhất nguyện vọng của nhân dân với ý chí quản lý của nhà nước thì nó sẽ củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với nhà nước và làm khăng khít thêm hơn mối quan hệ của nhân dân đối với nhà nước. Từ những phân tích trên cho thấy chính sách công chính là kết quả của các quyết định của Chính phủ, các quyết định này nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết “các vấn đề của xã hội” trong đó “là các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội” theo mục tiêu tổng thể của Đảng đã vạch ra từ 13 Luan van trước.