MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Bạo hành đối với trẻ em đã được lựa chọn là một trong 10 sự kiện chính trị, xã hội lớn nhất năm 2007. Chưa bao giờ nạn bạo hành, xâm hại trẻ em xuất hiện nhiều như hiện nay và chưa bao giờ dư luận xã hội lại lên tiếng phản ứng gay gắt đến vậy. Trong thời gian gần đây không ít vụ xâm hại trẻ em liên tiếp được phanh phui trước dư luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Theo một nghiên cứu của Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển và Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2006 về thực trạng trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam thì hình thức giáo dục bằng roi vọt vẫn tồn tại và phổ biến trong nhiều gia đình. Việc đánh đập, quát mắng, chửi rủa trẻ em được người lớn sử dụng thường xuyên khi trẻ mắc lỗi. Có đến 63% bà mẹ và 56% ông bố sử dụng hình thức trừng phạt này đối với con cái. Liệu đó có phải là cách cư xử, dạy dỗ con cái phù hợp của người cha, người mẹ trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi vấn đề nhân quyền luôn được đưa lên hàng đầu.
Rõ ràng bạo lực, xâm hại trẻ em không còn là vấn đề của riêng các gia đình mà nó đã trở thành một vấn đề xã hội cần đặc biệt quan tâm. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, việc giúp các bậc cha mẹ nhận thức tốt, hiểu và thực hiện tốt nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước cho trẻ em được đặt ra như một yêu cầu bức bách cần phải được chú trọng, nhằm giúp các em được hưởng một cách tốt nhất quyền của mình mà Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam đã đề ra. Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ 2 phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam cũng cam kết thực hiện tuyên bố chung Một thế giới phù hợp với trẻ em mà ở đó trẻ em được an toàn và lớn lên trong một môi trường không có sự lạm dụng và bạo lực, các em được bảo vệ khỏi nguy cơ tai nạn giao thông, chết đuối, tai nạn thương tích.
Chúng ta cũng 6 Học viên Lê Thị Vân z Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007 đã phê chuẩn Công ước 182 của Tổ chức lao động quốc tế về chống lại các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Năm 1991 Nhà nước ta cũng đã ban hành “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Như vậy, điều này đã minh chứng cho sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em. Vậy mà, ở nhiều nơi trong các gia đình trên địa bàn của Thủ đô – trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước, tình trạng trẻ em trong gia đình vẫn bị đánh đập, chửi rủa, bị bóc lột, bị sao nhãng…vẫn tồn tại phổ biến.
Tại sao tình trạng này vẫn tồn tại, thậm chí có những loại hình xâm hại trẻ em còn phổ biến hơn tại các địa bàn khác, khi mà người dân Hà Nội hoàn toàn có điều kiện hơn trong việc thực hiện quyền trẻ em, khi mà hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được nhiều cơ quan đoàn thể, chính quyền tham gia? Rõ ràng, hiện nay nhiều trẻ em vẫn phải chịu những xâm phạm từ phía những người lớn tuổi, bởi sự tác động của những yếu tố về kinh tế, xã hội. Tiếp cận từ góc độ quyền trẻ em chúng ta nhận thấy rằng người lớn đang vô tình vi phạm các quyền của trẻ em, vi phạm luật pháp Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Thêm vào đó, chính trẻ em cũng chưa nhận thức được những quyền của mình để tự bảo vệ khi bị xâm phạm. Có thể nói, đây là một vấn đề bức thiết không chỉ ở góc độ gia đình mà đã trở thành một vấn đề mang tính quốc tế, vấn đề vi phạm nhân quyền, cụ thể ở đây là quyền trẻ em.
Đã đến lúc chúng ta cần nhận thức lại một cách nghiêm túc những vấn đề liên quan đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ cho trẻ em của các gia đình và có những phân tích cẩn trọng nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người mà Liên hiệp quốc đã nêu và nước ta đang phấn đấu. Đây cũng là ý tưởng gợi nên trong tôi hướng nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội hiện nay”. 7 Học viên Lê Thị Vân z Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007 2. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học 2.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết của xã hội học như: Lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết vị trí – vai trò xã hội, lý thuyết biến đổi xã hội,. Nghiên cứu còn góp phần làm rõ hơn những đặc thù cũng như những thuận lợi và khó khăn của người dân Việt Nam khi thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm thông tin về Công ước nói chung và quyền được bảo vệ của trẻ em nói riêng cho trẻ em và đặc biệt là cho cha mẹ. Trên cơ sở đó một phần giúp họ thay đổi nhận thức và hành vi về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quyền trẻ em. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần bổ sung hoàn thiện cho các nghiên cứu trước đó về tình hình thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em tại Việt Nam.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Thông qua việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội, tìm hiểu các nhân tố cơ bản tác động đến việc thực hiện nhóm quyền này của họ; đề ra xu hướng thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong thời gian tới để từ đó đưa ra những khuyến nghị có tính khả thi đối với hoạt động bảo vệ trẻ em nói chung. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên của đề tài nghiên cứu. - Tìm hiểu, phân tích, đánh giá việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của người dân thành phố Hà Nội. 8 Học viên Lê Thị Vân z Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007 - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em tại các gia đình được chọn nghiên cứu.
- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị có tính khả thi giúp người dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục con cái trong gia đình. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng Việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em tại các gia đình người dân. Khách thể nghiên cứu Các gia đình người dân ở thành phố Hà Nội có trẻ em dưới 18 tuổi.3 Phạm vi nghiên cứu + Về nội dung Nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em quan tâm đến việc trẻ em được bảo vệ khỏi: - Sự bỏ rơi.
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh. - Sự bạo lực, lạm dụng, xâm hại, bóc lột và ngược đãi. - Sự phân biệt đối xử. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi quan tâm tìm hiểu tình hình thực hiện một số quyền trong nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội, cụ thể là quyền được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực, bị bóc lột và bị sao nhãng.
+ Đối tượng nghiên cứu Vì điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ khảo sát các gia đình hạt nhân với hai đối tượng chính là cha mẹ và trẻ em, nên đề tài chỉ tập trung khảo sát 9 Học viên Lê Thị Vân z Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007 đối với những bậc cha mẹ có con trong độ tuổi từ 6- 18 tuổi và khảo sát trẻ em từ 6- 18 tuổi. Sở dĩ chúng tôi lựa chọn mẫu như vậy là vì: Trẻ em ở độ tuổi dưới 6 tuổi chưa có khả năng hoặc rất hạn chế trong việc nhận thức về quyền của mình vì thế các em không có những nhận định riêng hoặc không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến quyền trẻ em được. Còn đối với cha mẹ mới chỉ có con trong độ tuổi nhỏ đó thì việc cha mẹ đánh mắng trẻ, bắt trẻ lao động hay không dành thời gian chăm sóc con là rất hiếm xảy ra, điều này có thể ảnh hưởng đến mẫu nghiên cứu. + Địa bàn và thời gian nghiên cứu: Không gian: 3 Quận/huyện thuộc thành phố Hà Nội (quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân, huyện Từ Liêm) Thời gian: Từ tháng 11/2007 – 1/2008 5.
Phƣơng pháp nghiên cứu 5. Phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng (DVBC) và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (DVLS) Mác- Lênin là cơ sở nền tảng phương pháp luận của đề tài nghiên cứu. Chủ nghĩa DVBC xem xét các sự vật, hiện tượng xã hội trong mối quan hệ biện chứng. Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng luôn tồn tại trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác, chúng tương tác lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Do vậy, khi tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em trong Công ước của các gia đình Hà Nội cần đặt chúng trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền của trẻ em của các tổ chức, ban ngành, đoàn thể các cơ quan chức năng của Nhà nước để thấy được sự tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền này tại các gia đình. Đồng thời khi xem xét việc thực hiện quyền trẻ em của các gia đình cần đặt trong mối quan hệ với các yếu tố tác động như kinh tế, văn hoá, trình độ học vấn, phong tục tập quán và nhận thức của các gia đình.