Luận Văn Thạc Sĩ Nghiên Cứu Các Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp Tại Bắc Ninh Từ Năm 1997 Đến 2017

Luận văn thạc sĩ phân tích sự phát triển của các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017, đánh giá vai trò và tác động trong cộng đồng.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ về các tổ chức xã hội nghề nghiệp tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 2017

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu về các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2017. Đây là một công trình khoa học nhằm làm rõ quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của các tổ chức này trong bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương. Nghiên cứu xã hội này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về các tổ chức phi lợi nhuận mà còn đánh giá vai trò của chúng trong việc thúc đẩy phát triển tổ chứcchính sách xã hội tại địa phương Bắc Ninh.

1.1. Khái quát về tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh được tái lập vào năm 1997, là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của miền Bắc. Với diện tích nhỏ nhưng giàu truyền thống lịch sử - văn hóa, Bắc Ninh có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ. Điều kiện tự nhiên của tỉnh thuận lợi với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình bằng phẳng và hệ thống sông ngòi dày đặc. Những yếu tố này đã tạo nền tảng cho sự phát triển của các tổ chức nghề nghiệphoạt động xã hội tại địa phương.

1.2. Sự ra đời và phát triển của các tổ chức xã hội nghề nghiệp

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh bắt đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1997. Những tổ chức như Hội Đông y, Hội Khuyến học, Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Lịch sử tổ chức xã hội này phản ánh sự thích ứng của các tổ chức với bối cảnh đổi mới của đất nước, đồng thời thể hiện vai trò quan trọng của chúng trong việc hỗ trợ cộng đồng và thúc đẩy phát triển tổ chức.

II. Hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh đã thực hiện nhiều hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Nghiên cứu tổ chức cho thấy, các tổ chức này không chỉ hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương mà còn góp phần xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục văn minh, hiện đại. Quản lý tổ chức hiệu quả đã giúp các tổ chức này phát huy tối đa vai trò của mình trong cộng đồng.

2.1. Hoạt động trong lĩnh vực kinh tế khoa học công nghệ

Các tổ chức như Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Hội Làm vườnHội Sinh vật cảnh đã thực hiện nhiều dự án hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương. Đánh giá tổ chức cho thấy, các hoạt động này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.

2.2. Hoạt động trong lĩnh vực văn hóa giáo dục và y tế

Các tổ chức như Hội Văn học - Nghệ thuật, Hội Khuyến họcHội Cựu giáo chức đã thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ giáo dục, văn hóa và y tế. Hoạt động xã hội của các tổ chức này đã góp phần xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục văn minh, hiện đại, đồng thời hỗ trợ cộng đồng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng.

III. Đánh giá và nhận xét về các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ đã đưa ra những nhận xét sâu sắc về vai trò và đóng góp của các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh. Nghiên cứu xã hội này không chỉ làm rõ những thành tựu mà còn chỉ ra những hạn chế trong hoạt động của các tổ chức. Chính sách xã hộiquản lý tổ chức cần được cải thiện để các tổ chức này phát huy tối đa tiềm năng của mình trong tương lai.

3.1. Đóng góp của các tổ chức xã hội nghề nghiệp

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh. Phát triển tổ chứchoạt động xã hội của các tổ chức này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân và xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục văn minh, hiện đại.

3.2. Thực trạng quản lý và hoạt động

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh vẫn gặp phải một số hạn chế trong quản lý tổ chứchoạt động xã hội. Nghiên cứu tổ chức cho thấy, cần có những cải tiến trong chính sách và cơ chế quản lý để các tổ chức này hoạt động hiệu quả hơn trong tương lai.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC NINH VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP TRƯỚC NĂM 1997 1. Khái quát về tỉnh Bắc Ninh 1. Điều kiện tự nhiên Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. So với các tỉnh thành trong cả nước, Bắc Ninh có diện tích nhỏ 823 km2.

Nhìn trên bản đồ, phạm vi của tỉnh Bắc Ninh thuộc tọa độ từ 200 58’B đến 210 16’ vĩ độ bắc và từ 1050 54’Đ đến 106o19’Đ kinh độ đông. Các tỉnh giáp gianh với Bắc Ninh gồm có: phía Bắc là tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương, phía Nam liền kề với tỉnh Hưng Yên, phía Tây nối liền với thành phố Hà Nội. Hiện nay, Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện (Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài). Khí hậu của tỉnh Bắc Ninh thuộc dạng cận nhiệt đới ẩm.

Một năm có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Do sự chênh lệch về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh nên hiện tượng mưa kéo dài diễn ra hàng năm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm [45]. Là một tỉnh thuộc đồng bằng nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình.

Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn. Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 0,53% so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, “các đỉnh núi cao phổ biến từ 60 - 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao khoảng 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao khoảng hơn 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao khoảng 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao khoảng 71m”[45]. 8 Chảy qua vùng đất Bắc Ninh có các con sông lớn như sông Đuống, sông Cầu sông Thái Bình.

Dòng chảy cùng với các nhánh chi lưu của nó đã tạo thuận lợi cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp.Hàng năm, sau mùa mưa lũ đồng bằng được bồi đắp bởi lượng lớn đất phù sa màu mỡ. Như vậy, với địa hình và khí hậu nóng ẩm nên từ rất sớm ở Bắc Ninh có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp. Bắc Ninh không phải là tỉnh có thế mạnh về tài nguyên khoáng sản. Ở tỉnh chỉ khai thác và sản xuất một số nguyên vật liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp.

Có thể kể đến việc khai thác đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh; đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60. Bắc Ninh ở vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ và đường không. Các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, Hà Nội- Quảng Ninh nối liền Bắc Ninh với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của khu vực phía Bắc Việt Nam, với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và liên thông với hệ thống các trục đường quốc lộ đến với mọi miền trong cả nước.

Chính vì vậy, Bắc Ninh rất thuận lợi trong giao lưu và phát triển nội thương cũng như khả năng xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới. Với những nhân tố thuận lợi trên, Bắc Ninh trở thành thành phố vệ tinh quan trọng cho Hà Nội và là một điểm nhấn trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Nơi đây, vừa là thị trường tiêu thụ, vừa là khu vực cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm nông sản, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ… cho các tỉnh thành trong vùng đồng bằng Sông Hồng và các vùng lân cận. Cùng với việc khai thác lợi thế của các làng nghề thủ công truyền thống, Bắc Ninh đang có nhiều chính sách thu hút đầu tư, mở rộng về quy mô sản xuất, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thành các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, trong nước và xuất khẩu.

Song song với việc phát triển công nghiệp, Bắc Ninh cũng chú trọng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng 9 chuyên canh. Tỉnh đang từng bước đưa chăn nuôi trở thành một ngành chính tạo nguồn nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại hóa. Vài nét về kinh tế tỉnh Bắc Ninh Bắc Ninh - miền đất trù phú tiềm ẩn nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Ở Bắc Ninh, trước năm 1997 tỉ lệ kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt chú trọng tăng cường đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là mục tiêu toàn tỉnh hướng tới. Dựa trên nguồn tài liệu Niên giám thống kê lưu trữ của tỉnh Bắc Ninh, tôi đã lập bảng thống kê sau: Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế Bắc Ninh (1997 - 2017) Năm Công nghiệp - xây dựng Nông nghiệp Dịch vụ 1997 23,8% 45,1% 31,1% 2010 64,8% 11% 24,2% 2017 75,2% 3% 21,8% [Nguồn: 45] So sánh các số liệu thống kê trong bảng 1.về cơ cấu kinh tế Bắc Ninh, chúng ta nhận thấy trong 20 năm tỉ trọng % giữa các lĩnh vực kinh tế công nghiệp, kinh tế nông nghiệp và kinh tế dịch vụ có sự thay đổi rõ rệt. Rõ ràng, Bắc Ninh bước đầu thành công trong quá trình chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bắc Ninh được tái lập năm 1997, nhưng Bắc Ninh đã đạt được những bước tiến khả quan trên.

Trước hết, là do Tỉnh ủy Bắc Ninh đã vận dụng linh hoạt chỉ đạo phát triển kinh tế của Chính phủ, triển khai sáng tạo, thích ứng với điều kiện thực tiễn của Bắc Ninh. Để phát triển công nghiệp, Bắc Ninh lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn FDI theo định hướng sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai; Đẩy mạnh công nghiệp phụ trợ; Tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, xử lí rác thải; Chú trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công nghệ thông tin, viễn thông…. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy Bắc 10 Ninh chú ý đến thực hiện các cơ chế chính sách ưu tiên, ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực mũi nhọn của tỉnh; Đa dạng hóa các hình thức đầu tư…ngoài ra, tỉnh tăng cường quản lí đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối hoạt động của các nhà đầu tư trên địa bàn. Vì vậy, tỉnh kịp thời có biện pháp giải quyết tình huống linh hoạt, phát huy có hiệu quả và kết hợp hài hòa giữa nguồn lực trong và ngoài tỉnh, đây là những nhân tố thúc đẩy nhanh tiến trình tăng trưởng kinh tế.

Năm 2017, trong công tác tổng kết cuối năm, những kết quả tỉnh Bắc Ninh đạt được như sau: Quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, vị thế của Bắc Ninh ngày càng nâng cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm (GRDP) năm 2017 chiếm 3,11% GDP, xếp thứ 4 trên 63 tỉnh, thành phố trong nước; tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 19. Bắc Ninh là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất Việt Nam [45]. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 1.049 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) [45].

Nếu xếp thứ hạng, Bắc Ninh có giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ 2 trong nước, sau thành phố Hồ Chí Minh. Công tác thu hút đầu tư được đẩy mạnh với cơ chế, giải pháp thông thoáng. Năm 2017, Bắc Ninh có160 dự án FDI mới và điều chỉnh tăng vốn cho 115 dự án với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh đạt 3,5 tỷ USD [45]. Hoạt động ngoại thương tạo kỳ tích mới với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên cán mốc gần 30 tỷ USD, chiếm 14,9% xuất khẩu cả nước.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 29,85 tỷ USD, vượt 47,5% kế hoạch đề ra và tăng 59,5% và giữ vững vị trí thứ 2 toàn quốc. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước 21.597,7 tỷ đồng, đạt 131,5% dự toán năm, tăng 20,1% so với năm 2016 (tương ứng tăng 3.585 tỷ đồng); trong đó thu nội địa là 16.137 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX đề ra (đến năm 2020, thu nội địa đạt 14. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm, sản xuất còn gặp nhiều khó khăn nhưng năng xuất, sản lượng cây trồng tăng đáng kể: Năng suất lúa ước đạt 60 tạ/ha; 11 sản lượng lương thực có hạt ước đạt 60 tấn; giá trị trồng trọt ước đạt 73,9 triệu đồng/ha năm 2010. Cơ cấu cây trồng gắn với luân canh hợp lý, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho thu nhập gần 200 triệu đồng/ha như: lúa, khoai tây, rau xanh, hoa, cây cảnh… Quan hệ sản xuất ở nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu xuất hiện mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, doanh nghiệp nông nghiệp, kinh tế trang trại.

Việc chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa tăng nhanh, dịch vụ nông nghiệp phát triển, “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng vùng sản xuất được coi trọng, chăn nuôi bước đầu chuyển sang chăn nuôi tập trung. Hình thành mô hình chuỗi giá trị trong nông nghiệp với tổ hợp sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, tạo liên kết doanh nghiệp hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ hàng hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ Về Các Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh Giai Đoạn 1997-2017" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh trong khoảng thời gian hai thập kỷ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các chính sách và hoạt động của các tổ chức này mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà họ đã gặp phải trong quá trình phát triển. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức các tổ chức này góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó có thể áp dụng những bài học kinh nghiệm cho các khu vực khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành tại các tỉnh vùng núi đông bắc việt nam, nơi nghiên cứu về các chính sách xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1996 đến năm 2010 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về chính sách dân tộc và vai trò của các tổ chức trong việc thực hiện chính sách này. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tốt nghiệp nguồn lực và thu nhập của hộ gia đình huyện thanh sơn tỉnh phú thọ, giúp bạn hiểu rõ hơn về nguồn lực và thu nhập của các hộ gia đình, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển tổ chức xã hội nghề nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề xã hội và chính sách tại Việt Nam.