CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái quát về cộng đồng người Ma Coong tại Quảng Bình Quảng Bình là một tỉnh có đa tộc người, trong đó người Việt, bao gồm cả nhóm Nguồn, chiếm hơn 97% dân số, phân bố ở các vùng đồng bằng, vùng ven biển, trung du và miền núi, còn nhiều dân tộc thiểu số cư trú ở vùng miền núi với 19.871 người, chiếm khoảng 2,3% dân số toàn tỉnh. Các dân tộc thiểu số ở Quảng Bình bao gồm dân tộc Chứt bao gồm các nhóm: Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng và nhóm dân tộc Bru - Vân Kiều với các nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong [1], [2].
Người Ma Coong tại Quảng Bình là một bộ phận của tộc người Bru Ma Coong từ Lào di cư sang[25], là một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều.Theo các già làng người MaCoong, trước đây tổ tiên của họ không phải ở vùng này, mà ở cách đây mấy ngày đường đi bộ, nơi đó có thể là khu vực đường 9 (Quảng Trị) sát biên giới với Lào hay khu vực bên kia biên giới thuộc tỉnh Sanavakhet ngày nay [26]. Tập quán sinh sống của người Ma Coong là lập làng bản và tìm đất canh tác dọc theo các con suối, hai bên bờ khe và triền núi thấp. Hiện nay người Ma Coong sinh sống trải dài trên các bản dọc theo biên giới Việt - Lào, chủ yếu thuộc địa phận xã Thượng Trạch, là một xã vùng đệm của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Phương thức sản xuất chủ yếu của người Ma Coong là phát, đốt, chọc, trỉa trên các triền dốc.
Cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào săn bắt, hái lượm, phụ thuộc vào tài nguyên rừng là chính. Nền kinh tế mang tính tự cung tự cấp gồm cây lương thực chính là ngô và lúa nếp nương. Từ năm 1955, trong một nghị quyết của Đảng bộ huyện Bố Trạch về hướng dẫn, sắp xếp lại nơi ăn chốn ở, cách thức sản xuất, chăn nuôi của đồng bào Ma Coong đã làm thay đổi cuộc sống của họ [14]. Người Ma Coong đã làm quen dần với việc định canh và biết trồng thêm các cây hoa màu, chăn nuôi thêm gia súc, gia cầm như lợn, gà.
Nhờ vậy, đời sống của họ đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên mức sống vẫn còn rất thấp và phong tục tập quán sống dựa vào tài nguyên rừng nên hàng ngày họ vẫn tiến hành thu hái lâm sản và săn bắt chim thú. trái phép từ những khu vực rừng tự nhiên của các Công ty Lâm nghiệp quản lý và tài nguyên rừng trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Khái niệm và vai trò của tập quán trong quản lí, khai thác tài nguyên rừng 1. Khái niệm Tập quán là những thói quen được hình thành trong quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư và được coi là một hình thức pháp luật sơ khai.
Hiện nay đã có nhiều khái niệm tập quán được nêu ra. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Theo Từ điển Triết học giản yếu, tập quán là “phương thức hành vi theo kiểu mẫu sẵn có, được lặp lại trong một tập đoàn xã hội, một xã hội nhất định, trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, và là thói quen, truyền thống của các thành viên trong xã hội ấy. Tập quán là hình thức xưa nhất để truyền thụ kinh nghiệm xã hội (kinh nghiệm lao động, các hình thức quan hệ xã hội, quan hệ đạo đức…được mọi người công nhận) từ thế hệ này sang thế hệ khác và từ xã hội đến cá nhân; tập quán cũng là hình thức đơn giản nhất để thực hiện sự kiểm soát xã hội, khuyến khích hay cấm đoán một hành vi nào đó. Những tập quán tương đối bền vững của một xã hội nhất định và có ý nghĩa về mặt đạo đức hợp thành phong tục của xã hội ấy.
Trong quá trình phát triển lịch sử, những tập quán lỗi thời được thay thế bằng những tập quán mới, tạo điều kiện hình thành ra những quan hệ xã hội mới, tiến bộ” [24]. Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 9 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về chứng minh và chứng cứ định nghĩa tập quán như sau: “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng” [20]. Như vậy, tập quán là những quy tắc xử sự trong xã hội, được hình thành trong đời sống xã hội và đang được cộng đồng thừa nhận như những nguyên tắc xử sự chung. Các loại hình của tập quán Theo lĩnh vực hoạt động của con người tập quán được phân thành 03 loại như sau [13]: Tập quán trong lao động sản xuất:là các tập quán trong sản xuất gồm các hoạt động chủ yếu: sản xuất lương thực; sản xuất thủ công và trong chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Tập quán trong quan hệ xã hội:là cáctập quán trong quan hệ xã hội gồm: tập quán về nhà ở; trang phục; nhạc cụ dân tộc; Phong tục, tập quán hỏi, cưới, lễ, hội: các làn điệu dân ca, điệu múa, tang lễ và quản lý xã hội. Tập quán trong bảo vệ môi trường, gồm: Phong tục, tập quán về vệ sinh môi trường nông thôn và bảo vệ, khai thác, phát triển rừng; bảo vệ nguồn nước, khai thác tài nguyên thiên nhiên. Vai trò của tập quán trong quản lý tài nguyên rừng Cùng với quy phạm pháp luật, phong tục, tập quán là công cụ điều chỉnh hữu hiệu các hoạt động quản lý tài nguyên rừng và môi trường. Trong quá trình sản xuất, sinh hoạt của con người các hoạt động đó đồng thời chịu sự điều chỉnh của cả quy phạm pháp luật và tập quán.
Để điều chỉnh tốt nhóm quan hệ xã hội này, cần có sự kết hợp hài hòa, hỗ trợ, bổ sung giữa các quy phạm pháp luật và tập quán của người dân. Việc áp dụng các phong tục, tập quán trong quản lý tài nguyên rừng cũng cần có những nguyên tắc nhất định như: Các phong tục tập quán được áp dụng không trái với Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 các nguyên tắc cơ bản của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các văn bản pháp quy của Nhà nước [31]. Điểm chung giữa quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán về lâm nghiệp, đặc biệt về quản lý, bảo vệ rừng là cùng thực hiện mục tiêu điều chỉnh và điều tiết quá trình khai thác, sử dụng lâm sản trong rừng. Mặc dù vậy, nếu xét về đối tượng, phạm vi, cấp độ điều chỉnh giữa chúng có sự khác biệt khá lớn.
Với chính sách, pháp luật hiện nay, các quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh hữu hiệu, có hiệu lực cao, được ban hành một cách chính thống, có sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền. Quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội ở tầm rộng hơn và khái quát hơn. Phong tục, tập quán đi vào chi tiết, cụ thể tại cộng đồng địa phương. Vì vậy, các phong tục bản địa dễ áp dụng, phù hợp thực tiễn và cũng dễ dàng được cộng đồng chấp nhận.
Do mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng của người dân qua nhiều thế hệ đúc kết lại và có sự điều chỉnh trong cuộc sống hiện tại nên các thành viên cộng đồng rất tin tưởng vào tính công bằng, chính xác của các quy tắc xử sự này, nhất là khi những phong tục, tập quán được ghi lại thành hương ước, quy ước. Phong tục, tập quán còn giúp giải quyết tranh chấp, khiếu kiện giữa các cộng đồng một cách ôn hòa, tích cực bởi các cộng đồng sống gần nhau sẽ có những nét tương đồng nên có thể dễ dàng hòa giải [13]. Khái niệm và vai trò của kiến thức bản địa trong việc khai thác tài nguyên rừng 1. Khái niệm Khi nói đến tri thức bản địa, đầu tiên chúng ta cần thiết phải xác định khái niệm về dân tộc bản địa.
Trên thực tế, đây là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và mang tính tương đối. Công ước 169 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO Convention 169) định nghĩa về người dân và bộ tộc bản địa “là những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của một cộng đồng quốc gia và địa vị của họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi những luật lệ đặc biệt hay quy định riêng của họ”[47]. Ngoài khái niệm ở trên cũng có những cách hiểu khác: Ví dụ, trong một quốc gia, nhiều khi những tộc người thiểu số được gọi là bản địa. Trên phạm vi toàn cầu, đôi khi người ta gọi những dân tộc có lịch sử sinh sống lâu đời trên một vùng đất là dân tộc bản địa.
Như vậy, người Việt có thể được coi là dân tộc bản địa ở phương diện thế giới, nhưng không được coi là dân tộc bản địa trong phạm vi quốc gia. Bên cạnh đó, khi nghĩ về người bản địa, nhiều khi chúng ta nghĩ rằng họ là hiện thân của những giá trị văn hóa truyền thống, hoặc đôi khi, không ít trong chúng ta cũng quan niệm họ là những người lạc hậu, hay là những người cộng đồng chậm tiến hoặc cản trở sự phát triển của cả một quốc gia. Khi nói đến người bản địa hay tri thức bản địa, chúng ta ngụ Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 ý nói đến quá trình lịch sử cộng cư, chia sẻ văn hóa và những kinh nghiệm đi kèm với nó, mang tính đặc thù của địa phương. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là, bản thân văn hóa là một tiến trình tiếp nhận và biến đổi.
Nó tích hợp trong nó cả văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại. Người bản địa ngày nay cũng vậy, họ không còn là người bản địa của 50 năm về trước. Bản thân họ không sống cuộc sống giống như cha ông họ. Văn hóa của họ cũng không còn là văn hóa thuần chất truyền thống.
Và tất nhiên, không phải bất kỳ tri thức nào của họ ngày hôm nay cũng được xem như tri thức bản địa. Tri thức bản địa mà lâu nay chúng ta đề cập tới là một dạng tri thức truyền thống, gắn liền với kinh nghiệm trong sinh hoạt và ứng xử với môi trường của người dân địa phương.