CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1. Dư luận xã hội Theo từ điển Xã hội học OXFORD, do nhóm dịch giả Bùi Thé Cuong, Dang Thi Việt Phuong, Trịnh Huy Hóa cho rang: “Du luận xã hội là một khái niệm thiếu chặt ché được dùng theo nhiều cách nhưng có lẽ theo thông thường nhất, nó đề cập đến sự chấp thuận hay không chấp thuận một bộ phận xác định trong xã hội trước những vị trí hay ứng xử có thể quan sát công khai và thường được đo lường thông qua các cuộc thăm dò DLXH. Do đó DLXH thường được đánh dong với những gi mà các cuộc thăm do DLXH đưa ra” (1) Tác giả Mai Quỳnh Nam định nghĩa : “DLXH là thể hiện tâm trạng xã hội phản ánh sự đánh gia cua các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội dang ton tại”.2) Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội đưa ra định nghĩa dư luận xã hội như sau: “Dư luận xã hội là tập hợp các luông ý kiến của các cá nhân trước các van dé, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chúng”. Phạm Chiến Khu, Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu dư luận xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, 2011) 1.
Dư luận xã hội của sinh viên Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa về DLXH, chúng tôi đưa ra định nghĩa về DLXH của sinh viên như sau: DLXH của SV là nhận thức, thái độ, quan điểm được phản ánh qua ý kiến đánh giá của sinh viên đối với các van đề, sự kiện, hiện tượng liên quan đến lợi ích, giá tri, niềm tin của họ. Gian lận Theo từ điểm Oxford, gian lận là sự phá vỡ các quy tắc đã đặt ra, đặc biệt là trong các kỳ thi nhằm cô gắng đạt được một lợi ích không công bằng. 16 Gian lận là hành động không trung thực hoặc không công bằng dé đạt được lợi thế. Gian lận là phi đạo đức và hầu hết học sinh biết răng điều đó là sai về cơ bản.
Có nhiều loại gian lận (gian lận trong học tập, gian lận trong các mối quan hệ cá nhân, gian lận trong thể thao, gian lận trong trò chơi và cờ bạc), nhưng ở đây chúng ta sẽ tập trung vào gian lận trong học tập. Gian lận và gian dối trong học thuật đã tồn tại trong nhiều thập ky (Donald L McCabe, Trevino, & Butterfield, 2001). Nhận thức, niềm tin, thái độ Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thé giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Theo quan điểm triết học Mac-Lenin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Trong tâm lý học nhận thức và kỹ thuật nhận thức, nhận thức thông thường được coi là quá trình xử lý thông tin của tâm trí người tham gia hay nguoi điều hành hoặc của não bộ. Theo đó nhận thức được cho là quá trình phản ánh năng động và sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não con người. Nhờ hoạt động nhận thức, không chỉ cái bên ngoài mà cả bản chất nên trong, các mối quan hệ mang tính quy luật chi phối sự vận động, sự phát triển các sự vật hiện tượng, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cái sẽ tới. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau thê hiện nhiều mức độ phản ánh hiện thực khách quan và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thức khách quan.
Khái niệm niềm tin: Theo Siergist và cộng sự (2006), niềm tin là sự tin chắc rằng mọi việc đều nằm trong tầm kiểm soát và sự không chắn chăn là rất thấp. Trịnh Đình Bảy (2002) xác định niềm tin bao gồm hai 17 yêu tố cơ bản, gồm tri thức (kinh nghiệm và lý luận) và cảm xúc. Tri thức gồm các mức độ khác nhau tùy thuộc vao trình độ nhận thức, còn cảm xúc tùy thuộc vào mức độ thỏa mãn nhu cầu và được thể hiện dưới hình thức tích cực hoặc tiêu cực. Tri thức và cảm xúc tích hop với nhau để tạo nên niềm tin.
Trong hai yếu tố trên cảm xúc đôi khi chiếm phần nổi trội hơn tri thức. Khái niệm thái độ: Thái độ là một khái niệm tương đối phức tạp.Hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ. Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, thái độ được hiểu như sau: + Tổng thé nói chung những biểu hiện ra bên ngoài ( bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động ) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay đối với sự việc nào đó. + Cách nghĩ, cách nhìn hoặc cách hành động theo một hướng nào đó trước một van dé, một tình hình.
Từ điển tâm lí học của Nguyễn Khắc Viện : “ Trước một đối tượng nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn trong cơ cấu tâm lí tạo ra định hướng cho việc ứng phó. Từ thái độ sẵn có, tri giác về đối tượng cũng như bị tri phối, về vận động thì thái độ gắn liền với tư thế.” Trong từ điển các thuật ngữ tâm lí và phân tâm học xuất bản tại NewYork năm 1966 : “Thai độ là một trạng thái ổn định bên vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đổi với một nhóm đối tượng nhất định, không phải chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao. Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng. Trạng thái sẵn sàng cao có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đên doi tượng” 18 Trên thực tế, lần đầu tiên định nghĩa thái độ được đưa vào là năm 1918 bởi hai nhà tâm lí học người Mỹ W.Znaniecki, hai ông cho rằng : “ Thái độ là trạng thái tinh thần ( state of mind ) của cá nhân đối với một giá trị .” Định nghĩa này chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một giá trị khác làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã hội chấp nhận.
Sau thời gian đó bắt đầu hàng loạt các nghiên cứu về thái độ xã hội được tiến hành.Trên những bình diện khác nhau về mặt lí luận và thực tiễn của các mối quan hệ xã hội, các tác giả đưa ra các quan niệm khác nhau về thái độ với những hạt nhân hợp lý cơ bản riêng. Năm 1935,nha tâm lý học người Mỹ là G.Allport đã định nghĩa: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh than và thần kinh được tô chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thé và tình huéng mà nó quan hệ.” Sau này Newcome cũng cho rằng thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó là “ thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thê liên quan.Kalat đưa ra định nghĩa : “ Thái độ là sự thích ứng hay không thích ứng một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hoặc con người đó.” Trên đây là những định nghĩa về thái độ theo tâm lí học phương Tây, còn theo tâm lí học Macxít ( đại diện là V.Miaxisev) thì cho rằng 7“ Thai độ là khía cạnh chủ quan bên trong, có tinh chon loc của các mối liên hệ đa dạng ở con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực. Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con người, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và qui định nội hàm hành động cũng như các trải nghiệm của họ ” Trên cơ sở tích hợp từ các định nghĩa trên, trong luận văn sử dụng khái niệm “thái độ” với cả hai nghĩa giá trị niềm tin và xu hướng hành động thê hiện dưới hình thức các lời nhận định. Thái độ được hiểu là tâm trạng bên 19 trong được biểu lộ ra qua hành động, hành vi của cá nhân hay nhóm xã hội trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành, ủng hộ hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia hoặc không tham gia sự kiện đó.
Nó là giai đoạn trung gian giữa nhận thức tiềm ân với giai đoạn thực hiện đầy đủ hành vi về một vấn đề nào đó. Thái độ của cá nhân, nhóm xã hội bị quy định bởi các yếu tố xã hội, đối tượng tác động và phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội. Do vậy, thái độ có thé thay đổi nếu các yếu tố xã hội, đối tượng tác động và khuôn mẫu giá trị xã hội thay đổi. Từ việc tìm hiểu, xem xét, phân tích các quan điểm về thái độ nêu trên, thái độ có thé được định nghĩa như sau: Thai độ là một thuộc tính cua nhân cách, tạo ra tâm lý sẵn sàng phản ứng lại các tác động khách quan; sẵn sàng hoạt động của chủ thể với đối tượng theo một hướng nào đó, được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhận thức, xúc cảm-tình cảm và hành vi của chủ thể đối với đối tượng trong những tinh hung, điều kiện nhất định.
Lý thuyết về dự luận xã hội J.Habermas là người phát triển khái niệm lĩnh vực công cộng (public spheres) khi nghiên cứu về dư luận xã hội. Theo ông, lĩnh vực công cộng là một vũ dai, là nơi thoải mái dé các công dân tranh luận, cân nhắc thiệt hơn, thỏa thuận thống nhất và hành động. Tại đây, mọi người có thẻ chia sẻ quan điểm của mình một cách tự do với nhau. Habermas hy vọng tạo lập ra sự đối thoại bên ngoài vòng kiểm soát của chính phủ và kinh tế.
Tuy nhiên, mô hình lĩnh vực công cong “lại ngăn can sự phóng đãng mang tinh hỗn loạn của thời hậu hiện đại bằng việc khôi phục lại những giá trị của lý trí và sự tự do của thời kỳ khai sáng ở trong những bản thuyết trình hiện đại vốn nhằm đến những mục đích thực dụng”(3).