Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang" do nghiên cứu sinh Sầm Thị Dương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Quang Hoan và PGS. Nguyễn Thị Song Hà. Công trình thuộc chuyên ngành Nhân học, mã số 9 31 03 02.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Người Hmông là một trong những tộc người thiểu số có dân số đông tại Việt Nam. Tại tỉnh Hà Giang, người Hmông phân bố ở 11/11 huyện, thành phố với bốn nhóm địa phương gồm Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Xanh và Hmông Đen; trong đó nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa chiếm số lượng lớn nhất. Tổng dân số người Hmông của tỉnh Hà Giang đạt 255.329 người, chiếm khoảng một phần ba dân số toàn tỉnh. Trong cấu trúc văn hóa của người Hmông, dòng họ là thiết chế xã hội cốt lõi, mang tính cố kết nội bộ rất cao, thậm chí vượt qua ranh giới hành chính và biên giới quốc gia.
Trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập, sự tiếp biến văn hóa cùng sự xâm nhập của các hiện tượng tôn giáo mới (đặc biệt là đạo Tin Lành) đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong quan hệ dòng họ truyền thống. Tại Hà Giang, dù ngôn ngữ nhóm Hmông Trắng có sự tương đồng với tiếng Hmông quốc tế, tỷ lệ cải đạo sang Tin Lành ở nhóm này lại thấp hơn so với nhóm Hmông Hoa. Dòng họ hiện nay còn được xem là một dạng vốn xã hội, một nguồn lực văn hóa quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dòng họ người Hmông một cách đơn lẻ hoặc trên bình diện chung; chưa có công trình nào đi sâu so sánh sự tương đồng và khác biệt về thiết chế dòng họ giữa các nhóm Hmông cụ thể trên cùng một địa bàn cấp xã, đặt trong cả bối cảnh duy trì văn hóa truyền thống lẫn bối cảnh cải đạo.
Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm, vai trò, mối quan hệ và giá trị dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa trên địa bàn xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; tiến hành so sánh nhằm nhận diện sự tương đồng và khác biệt giữa dòng họ hai nhóm.
- Nhận diện sự biến đổi bản sắc văn hóa dân tộc Hmông thông qua nghiên cứu thiết chế dòng họ tại địa bàn khảo sát.
- Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc và tôn giáo tại vùng đồng bào Hmông.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ sự tương đồng và khác biệt về dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa.
- Làm rõ sự tương đồng và khác biệt dòng họ giữa nhóm duy trì tín ngưỡng truyền thống và nhóm đã cải đạo theo Tin Lành.
- Đề xuất các giải pháp đối với công tác quản lý nhà nước về dân tộc - tôn giáo, đặc biệt là việc phát huy vai trò của người có uy tín theo Chỉ thị 06/CT-TTg, công cuộc xây dựng nông thôn mới và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa tại xã Bạch Ngọc, tập trung khảo sát chuyên sâu 06 dòng họ (03 họ Giàng, 02 họ Thào, 01 họ Vàng).
- Phạm vi nội dung: Thiết chế dòng họ, các nghi lễ dòng họ (tang ma, tín ngưỡng, cưới xin), vai trò, quan hệ và giá trị dòng họ của hai nhóm.
- Phạm vi không gian: 05 thôn có người Hmông cư trú tập trung tại xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (gồm thôn Khuổi Vài, Khuổi Dò, Minh Thành, Ngọc Lâm và Ngọc Sơn).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 (thời điểm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, tình hình biên giới phía Bắc dần ổn định) đến năm 2018 - 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu của học giả quốc tế
Tác giả luận án đã hệ thống hóa các nghiên cứu lý thuyết nền tảng và nghiên cứu thực nghiệm quốc tế về dòng họ, thân tộc và tộc người Hmông:
- Lý thuyết dòng họ và thân tộc cổ điển: Các công trình của J. J. Bachofen, J. F. McLennan và L. H. Morgan, được tổng hợp và phân tích theo quan điểm duy vật lịch sử trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước của F. Engels. Tác phẩm Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh của Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda cung cấp cơ sở phân loại dòng họ đơn hệ (phụ hệ, mẫu hệ) và song hệ. Công trình Bức khảm văn hóa Châu Á của Grant Evans phân tích quan hệ hôn nhân cư trú bên chồng qua 4 loại dòng họ. Robert Lowie trong Luận về xã hội học nguyên thủy vận dụng thuyết chức năng để làm rõ quan hệ họ hàng hai bên nội - ngoại.
- Nghiên cứu chuyên sâu về người Hmông: F. M. Savina trong Lịch sử người Mèo so sánh vũ trụ quan và trang phục của người Hmông. Guy Morechand trong Những đặc điểm của thuật saman của người Mèo Trắng ở Đông Dương đề cập khái niệm dòng họ (Xeem) và cấu trúc sa man giáo. Jacques Lemoine trong Một làng người Hmông Xanh ở Thượng Lào phân tích hệ thống thuật ngữ thân tộc tại làng Pha hok. Keith Quincy trong Hmong: History of a people nghiên cứu truyền thuyết phân định 5 nhóm địa phương qua trang phục. Nicholas Tapp và Gary Y. Lee công bố các chuyên khảo về người Hmông tại Thái Lan (làng Nomya) và cộng đồng Hmông ở Úc (2010). Prasit Leepreecha nghiên cứu thiết chế dòng họ (xênhv) và bản sắc Hmông tại Thái Lan. Các học giả Trung Quốc như Nhan Ân Tuyền và Cổ Văn Phượng phân tích trang phục và kỹ thuật dệt lanh truyền thống tại Vân Nam. Vấn đề chuyển đổi tôn giáo được phản ánh qua công trình của Vayong Moua (người Hmông cải đạo tại Lào) và James F. Lewis (nghiên cứu phong trào cải đạo Tin Lành của người Hmông tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2005).
Các hướng nghiên cứu của học giả trong nước
- Nghiên cứu tổng quan về dòng họ các dân tộc thiểu số: Các bài viết của Ngô Đức Thịnh (Dòng họ trong đời sống xã hội hiện nay), Phan Đại Doãn (Cơ sở kinh tế và thể chế tông pháp của dòng họ người Việt), Đặng Nghiêm Vạn (Bàn về dòng họ người Việt, Dòng họ, gia đình các dân tộc ít người trước sự phát triển hiện nay, Tàn dư văn hóa nguyên thủy liên quan đến dòng họ, gia đình, hôn nhân người Khơ Mú), Nguyễn Văn Toàn (Tín ngưỡng dòng họ với cố kết tộc người ở các dân tộc Hmông và Khơ Mú), và Lê Minh Anh (Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình).
- Nghiên cứu về tộc người Hmông và dòng họ người Hmông: Các công trình của Phạm Quang Hoan về thiết chế xã hội truyền thống quản lý tài nguyên và nghi lễ dòng họ (thi su, nhu đa) tại Kỳ Sơn, Nghệ An; Vương Duy Quang với các khảo cứu về quan hệ dòng họ và văn hóa tâm linh người Hmông; Nguyễn Ngọc Thanh nghiên cứu quy ước luật tục và vai trò người có uy tín tại Sơn La; Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Lào Cai với tài liệu về tổ chức dòng họ tại Bắc Hà; các công trình tổng quan của Cư Hoà Vần – Hoàng Nam, Từ Ngọc Vụ, Chu Thái Sơn; các nghiên cứu địa bàn của Hoàng Xuân Lương (Nghệ An), Trần Hữu Sơn (Lào Cai), Trường Lưu – Hùng Đình Quý (Hà Giang), Đậu Tuấn Nam (di cư tự do), Võ Thị Mai Phương (người Hmông tại Đắk Lắk), Nguyễn Thị Song Hà và Hồ Xuân Định (nghi lễ vòng đời và luật tục vùng Tây Bắc), Nguyễn Văn Thắng (sự phân chia nội bộ và biến đổi tôn giáo "lý cũ" - "lý mới"), Hồ Ly Giang (dòng họ Hmông Trắng ở Sơn La), Mua Hồng Sinh (tang ma họ Giàng ở Mèo Vạc), và các công bố trước đó của chính tác giả Sầm Thị Dương tại Đồng Văn, Hà Giang.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình đi trước đã cung cấp nền tảng phong phú về văn hóa tộc người Hmông nhưng phần lớn tiếp cận ở diện rộng hoặc chỉ khảo sát riêng rẽ một nhóm địa phương tại một vùng sinh thái nhất định. Khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết là: thực hiện một nghiên cứu so sánh trực tiếp, vi mô cấp xã về thiết chế dòng họ giữa hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa cùng sinh sống xen kẽ, đồng thời phân tích sự phân hóa giữa bộ phận duy trì tín ngưỡng truyền thống và bộ phận cải đạo theo Tin Lành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem xét đối tượng trong mối liên hệ tương tác với môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và quá trình biến đổi lịch sử. Công trình quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác dân tộc, tôn giáo.
- Khái niệm Dòng họ: Tiếp thu quan niệm của Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, Sorensen và Vương Duy Quang. Dòng họ người Hmông là tổ chức xã hội đơn hệ phụ hệ (pênhx chuôz), bắt nguồn từ quan niệm "cùng một cây người" (iz trôngs Hmôngz), phân nhánh thành các cành (chêl), và đơn vị nhỏ nhất là mái (phangx), tính theo trực hệ từ chắt của Ego (xinhz nzưr). Tác giả xác định dòng họ người Hmông là một cộng đồng huyết thống theo dòng cha, nhận biết nhau qua các vị tổ tiên được thờ phụng, có chung quy tắc cúng ma và kiêng kỵ ("cùng họ, cùng ma" - thồng xểnh thồng đang). Quan hệ dòng họ được xem xét qua 3 chiều kích: họ bên nội (dòng cha), họ bên ngoại (dòng mẹ) và họ bên vợ/chồng (quan hệ liên minh thông gia).
- Khái niệm Chi họ và Thân tộc: Chi họ có phạm vi hẹp hơn dòng họ, gồm các thành viên có quan hệ huyết thống dòng cha trong phạm vi 3 đến 4 đời. Khái niệm thân tộc và hệ thống thuật ngữ thân tộc được sử dụng để phân tích cấu trúc xưng hô và quy tắc ứng xử giữa các thành viên.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu thứ cấp: Kế thừa chọn lọc thông tin từ 120 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, các báo cáo hành chính của Trung ương và địa phương tỉnh Hà Giang, huyện Vị Xuyên, xã Bạch Ngọc.
- Phương pháp điền dã dân tộc học (chủ đạo): Triển khai từ năm 2014 đến cuối năm 2018 tại 05 thôn của xã Bạch Ngọc (Minh Thành, Khuổi Dò, Khuổi Vài, Ngọc Lâm, Ngọc Sơn):
- Quan sát trực tiếp: Ghi chép nhật ký điền dã, chụp ảnh, vẽ sơ đồ cấu trúc nhà ở, không gian thờ cúng và sơ đồ bài trí các bát cúng trong nghi lễ dòng họ.
- Quan sát tham dự: Thực hiện phương châm "3 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc); trực tiếp tham gia các nghi lễ như Lễ cúng ma trâu, đám cưới truyền thống, lễ cúng cho trẻ nhanh biết đi, lễ giải hạn, lễ gọi hồn của họ Giàng (nhóm Hmông Hoa, thôn Minh Thành); Lễ mừng thọ của ông Lý Văn Minh, lễ giải hạn của ông Vàng Mý Sỳ (nhóm Hmông Trắng, thôn Khuổi Dò); đám cưới Tin Lành họ Giàng (nhóm Hmông Trắng, thôn Khuổi Vài); tham dự tết âm lịch năm 2017.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 30 cuộc phỏng vấn với các nhóm đối tượng: trưởng dòng họ, người có uy tín, người giữ quyền ma quyền khách, già làng, trưởng thôn, cán bộ, thầy cúng, thầy kèn, thầy trống, thầy chỉ đường, trưởng điểm nhóm và chức sắc Tin Lành của cả hai nhóm Hmông.
- Thảo luận nhóm: Thực hiện trên 20 cuộc thảo luận nhóm (quy mô từ 3 đến 7 người/nhóm) theo các chủ đề chuyên biệt, phân chia theo giới tính, độ tuổi, nhóm địa phương thuần nhất hoặc kết hợp hai nhóm Hmông.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đối sánh đồng đại và lịch đại giữa nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa; giữa bộ phận duy trì tín ngưỡng truyền thống và bộ phận theo đạo Tin Lành trên các phương diện văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, cơ cấu tổ chức và vai trò dòng họ.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà khoa học chuyên ngành, cán bộ quản lý văn hóa - dân tộc và các bậc lão thành người Hmông.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế
Tư liệu thực địa thu thập liên tục từ 2014 đến 2018 tại xã Bạch Ngọc; số liệu hành chính - kinh tế xã hội và tôn giáo do Ủy ban nhân dân xã Bạch Ngọc cung cấp tính đến ngày 31/12/2018 (tổng diện tích tự nhiên 11.255,53 ha, 9 thôn; dân số 4.249 người/916 hộ thuộc 7 dân tộc: Tày 41,2%, Hmông 40,7% với 1.732 người/319 hộ, Dao 16,2%...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu
Chương này phác thảo bức tranh tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, đồng thời so sánh diện mạo ban đầu giữa hai nhóm Hmông:
- Điều kiện sinh thái và dân cư: Xã Bạch Ngọc là vùng núi đất xen kẽ núi đá vôi, mạng lưới sông suối có ngòi Sảo đổ ra sông Lô. Người Hmông di cư đến đây chủ yếu sau chiến tranh biên giới năm 1979 và phong trào hạ sơn giai đoạn 1990 - 2000. Nhóm Hmông Hoa di cư từ Hoàng Su Phì, Xín Mần; nhóm Hmông Trắng di cư từ Đồng Văn, Quản Bạ.
- Đặc điểm sinh kế thích ứng: Khác với vùng núi đá phía Bắc, người Hmông tại Bạch Ngọc lấy cây lúa (cả lúa nương và ruộng nước) làm cây lương thực chính thay cho ngô. Trồng rừng (keo, tre, nứa, chít) phát triển mạnh thành ngành kinh tế mang lại thu nhập cao. Trong chăn nuôi, đồng bào phát triển nuôi trâu, lợn đen, dê và đào ao thả cá theo kỹ thuật của người Tày, người Dao. Nghề dệt lanh truyền thống hầu như mai một hoàn toàn, người dân mua vải và trang phục may sẵn ở chợ phiên; nam giới chuyển sang làm thêm nghề thợ xây phụ hồ.
- Tổ chức thôn bản và gia đình: Thôn bản (Jaol) vận hành kết hợp giữa luật tục truyền thống và quy ước nông thôn mới. Gia đình mang tính chất phụ quyền sâu sắc, duy trì các khuôn mẫu đề cao nam giới và con trai ("Hổ chết còn da, bò chết còn sừng, bố chết còn con trai").
- Bối cảnh tôn giáo: Đạo Tin Lành xuất hiện từ cuối thập niên 1980 qua mạng lưới của Dương Văn Mình và các chương trình truyền thanh tiếng Hmông từ nước ngoài. Sau Chỉ thị số 01/CT-TTg năm 2005, địa phương đã công nhận 04 điểm nhóm thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc). Tính đến 31/12/2018, toàn xã có 110 hộ/548 tín đồ Tin Lành (Khuổi Vài 39 hộ/192 tín đồ, Ngọc Lâm 37 hộ/198 tín đồ, Ngọc Sơn 24 hộ/100 tín đồ, Khuổi Dò 10 hộ/58 tín đồ).
- So sánh bước đầu giữa hai nhóm: Tự nhận thức tộc danh đồng nhất (Pêz iz Hmôngz) nhưng phân biệt rõ nhóm (Hmông Đươz - Hmông Trắng; Hmông Lênhx - Hmông Hoa). Nhà ở có cấu trúc nhà đất 3 gian 2 chái giống nhau. Phụ nữ cả hai nhóm hiện nay chủ yếu mặc váy hoa in nhiều màu của nhóm Hmông Hoa. Ngôn ngữ có sự giao thoa, khác biệt thể hiện qua hệ thống từ vựng thân tộc:
| TT |
Tiếng Việt |
Tiếng Hmông Trắng |
Tiếng Hmông Hoa |
| 1 |
Tôi |
Cú |
Cú |
| 2 |
Bố |
Trí |
Trái / Trớ |
| 3 |
Mẹ |
Nỉa |
Nả |
| 4 |
Ông nội |
Zờ |
Zở |
| 5 |
Bà nội |
Pò |
Pù |
| 6 |
Anh trai của bố (bác trai) |
Trí ló |
Zở lâu |
| 7 |
Vợ của bác trai |
Nỉa ló |
Pù lâu |
| 8 |
Em trai của bố (chú) |
Trí zở |
Trí zở |
| 9 |
Vợ của chú |
Nỉa zở |
Nả zở |
| 10 |
Chị, em gái của bố |
Fầu |
Pù nhắng |
| 11 |
Chồng của chị, em gái của bố |
Zờ lâu |
Sớ cứ zì |
| 12 |
Ông ngoại |
Zở trí |
Zở trớ |
| 13 |
Bà ngoại |
Nỉa tai |
Nả tai |
| 14 |
Anh, em trai của mẹ |
Đá lâu |
Tsớ tlắng |
| 15 |
Vợ của anh, em trai của mẹ |
Tì đá lâu |
Nả tlắng |
| 16 |
Chị gái của mẹ |
Tai lua |
Nỉa tai lua |
| 17 |
Em gái của mẹ |
Pù lua |
Pù lua |
| 18 |
Chồng của chị em gái của mẹ |
Nỉa trí lua |
Tsớ lua |
(Nguồn: Tư liệu điền dã của NCS năm 2017, trích từ Bảng 1 của Luận án)
Chương 2: Đặc điểm dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa
Chương này đi sâu phân tích cấu trúc bên trong của 6 dòng họ khảo sát (3 họ Giàng, 2 họ Thào, 1 họ Vàng):
- Sự phân bố và nguồn gốc: Các dòng họ phân bố xen kẽ tại 5 thôn. Lịch sử hình thành dòng họ gắn liền với các truyền thuyết tô-tem, lịch sử thiên di và huyền thoại về các nhánh họ.
- Dấu hiệu nhận biết dòng họ:
- Thể hiện qua hệ thống tên họ, cách đặt tên đệm, và đặc biệt là nghi thức thờ cúng tổ tiên tại gian giữa ngôi nhà.
- Sự khác biệt trong nghi lễ cúng ma trâu (nhu đa): Mỗi dòng họ thuộc từng nhóm Hmông có sơ đồ bố trí các bát cúng riêng biệt (Luận án ghi nhận chi tiết qua các sơ đồ: cách bố trí bát cúng họ Giàng nhóm Hmông Hoa, họ Thào nhóm Hmông Trắng, họ Thào nhóm Hmông Hoa, họ Vàng nhóm Hmông Trắng).
- Nghi thức tang ma: Khác biệt ở tiếng khèn, nhịp trống, cách làm lễ chỉ đường (chỉ ma), quy định về việc phúng viếng và đưa người chết vào quan tài.
- Các kiêng kỵ: Kiêng kỵ ăn thịt con vật biểu trưng dòng họ, kiêng làm nhà dính sát vách do tục đuổi ma khi làm đám tang.
- Tổ chức bộ máy dòng họ: Thiết chế gồm Trưởng dòng họ (người cao tuổi, hiểu biết luật tục), người có uy tín, người nắm "quyền ma" (thầy cúng chủ trì nghi thức nội bộ) và người nắm "quyền khách" (chủ trì các công việc giao thiệp bên ngoài như cưới hỏi).
- Sự biến đổi của đặc điểm dòng họ:
- Biến đổi tự nhiên: Sự đơn giản hóa một số nghi thức rườm rà dưới tác động của đời sống kinh tế mới.
- Biến đổi do cải đạo Tin Lành: Các hộ cải đạo dỡ bỏ bàn thờ ma nhà, bãi bỏ hoàn toàn các nghi lễ ma trâu, ma lợn, ma cà rồng; chuyển nghi thức tang ma và cưới xin sang nghi lễ của Hội thánh Tin Lành (cầu nguyện, hát thánh ca, chôn cất nhanh gọn trong 24 giờ), làm thay đổi căn bản các dấu hiệu nhận diện dòng họ truyền thống.
Chương 3: Vai trò và quan hệ dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa
Chương 3 luận giải chức năng vận hành thực tế của dòng họ trong đời sống cộng đồng:
- Vai trò của dòng họ:
- Kinh tế: Tương trợ lao động qua hình thức đổi công trong canh tác lúa, khai thác gỗ rừng, dựng nhà cửa; cho vay mượn vốn, gia súc không lấy lãi khi gia đình gặp khó khăn.
- Xã hội - Quản lý: Thiết chế dòng họ duy trì trật tự thôn bản thông qua luật tục, giải quyết các tranh chấp đất đai, hôn nhân, xử phạt hành vi trộm cắp hoặc bất hòa nội bộ trước khi chuyển lên chính quyền.
- Văn hóa - Tâm linh: Tổ chức thực hành các nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, mừng thọ, cưới hỏi, tang ma), bảo lưu tiếng nói và bản sắc văn hóa tộc người.
- Các mối quan hệ dòng họ:
- Quan hệ nội tộc (dòng cha): Mối quan hệ có tính ràng buộc pháp lý và tâm linh cao nhất, thực hiện nguyên tắc tuyệt đối ngoại hôn cùng họ, cùng ma.
- Quan hệ ngoại tộc (dòng mẹ): Vai trò đặc biệt quan trọng của người cậu (đá lâu / tsớ tlắng), có quyền can thiệp và quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi của cháu ngoại khi chia tài sản hoặc tổ chức tang ma.
- Quan hệ thông gia (bên vợ/chồng): Tạo lập liên minh dòng họ, mở rộng mạng lưới hỗ trợ xã hội giữa các nhóm họ khác nhau.
- So sánh và phân hóa quan hệ dòng họ:
- Giữa nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa truyền thống: Có sự thống nhất cao về quy tắc ứng xử, đạo lý và cơ chế tương trợ.
- Giữa nhóm giữ tín ngưỡng truyền thống và nhóm theo Tin Lành: Xuất hiện sự rạn nứt trong quan hệ thực hành nghi lễ (người theo đạo không tham gia ăn đồ cúng ma của dòng họ truyền thống, người truyền thống không tham gia lễ cầu nguyện Tin Lành), tuy nhiên mối liên kết huyết thống và tương trợ kinh tế đời thường vẫn được duy trì ở mức độ nhất định.
Chương 4: Giá trị, hạn chế của dòng họ nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa, một số vấn đề đặt ra
Chương 4 tổng kết phương diện giá trị, mặt trái và khuyến nghị chính sách:
- Những giá trị tích cực: Thiết chế dòng họ là nguồn vốn xã hội cốt lõi, tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, nâng cao năng lực tự quản cộng đồng, góp phần bảo tồn tri thức bản địa và ổn định trật tự an ninh cơ sở.
- Những hạn chế tồn tại: Tư tưởng phụ quyền khắt khe làm hạn chế quyền năng của phụ nữ; hủ tục ma chay kéo dài, giết mổ nhiều gia súc gây lãng phí kinh tế; sự phân hóa tín ngưỡng giữa "lý cũ" và "lý mới" tạo ra nguy cơ chia rẽ khối đoàn kết dòng họ nếu không được điều phối hài hòa.
- Vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước:
- Cần phát huy vai trò của trưởng họ và người có uy tín trong việc vận động nhân dân chấp hành pháp luật theo tinh thần Chỉ thị 06/CT-TTg.
- Lồng ghép việc thực hiện các hương ước, quy ước thôn bản với luật tục tích cực của dòng họ trong phong trào xây dựng nông thôn mới.
- Tiếp cận công tác quản lý dân tộc - tôn giáo từ góc độ văn hóa, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đã được đăng ký hợp pháp của các điểm nhóm Tin Lành, đồng thời vận động đồng bào cải cách các tập tục tang ma tốn kém.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp hệ thống tư liệu dân tộc học và nhân học mới, chân thực và chi tiết về thiết chế dòng họ của người Hmông tại địa bàn xã vùng thấp/vùng đồi núi đất (xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) - một vùng sinh thái khác biệt so với vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Hà Giang.
- Làm rõ một cách có hệ thống sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc, dấu hiệu nhận biết (bàn thờ, sơ đồ cúng ma trâu), ngôn ngữ thân tộc và nghi lễ dòng họ giữa hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa trên cùng một không gian cư trú.
- Phân tích cụ thể cơ chế biến đổi văn hóa dòng họ dưới tác động kép của kinh tế thị trường và sự cải đạo sang Tin Lành, chỉ ra những chuyển dịch từ cấu trúc dòng họ truyền thống sang dòng họ có sự đan xen tín ngưỡng.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Cung cấp luận cứ khoa học thực địa giúp cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan làm công tác dân tộc - tôn giáo tỉnh Hà Giang đánh giá chính xác thực trạng đời sống của đồng bào Hmông.
- Đề xuất quan điểm chuyển đổi phương thức quản lý: kết hợp giải quyết vấn đề tôn giáo từ góc độ văn hóa thay vì chỉ dùng biện pháp hành chính - chính trị đơn thuần.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của người có uy tín trong dòng họ, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, bài trừ hủ tục và bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của người Hmông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực điền dã, luận án tập trung khảo sát sâu 06 dòng họ thuộc hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa tại 05 thôn của xã Bạch Ngọc. Kết quả nghiên cứu phản ánh đặc thù của người Hmông vùng đồi núi đất tiếp cận mô hình kinh tế lúa nước - trồng rừng, chưa thể bao quát toàn diện đặc điểm dòng họ của hai nhóm còn lại (Hmông Xanh, Hmông Đen) trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng giữa các dòng họ người Hmông ở vùng cao núi đá phía Bắc (Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ) với vùng đồi núi đất phía Tây và phía Nam Hà Giang; nghiên cứu sâu hơn về tác động dài hạn của các hệ phái Tin Lành đối với sự biến đổi thể chế hôn nhân và thân tộc của người Hmông.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học và Tôn giáo học; cung cấp phương pháp điền dã dân tộc học so sánh cụ thể tại thực địa và bảng thuật ngữ thân tộc đối chiếu chi tiết.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Dân tộc, Phòng Dân tộc huyện, Mặt trận Tổ quốc và chính quyền cơ sở vùng miền núi phía Bắc trong việc triển khai Chỉ thị 06/CT-TTg về người có uy tín, xây dựng nếp sống văn hóa mới và quản lý các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo thuần túy.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tập trung khảo sát những dòng họ cụ thể nào tại địa bàn nghiên cứu?
Luận án khảo sát chuyên sâu 06 dòng họ thuộc hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa sinh sống tại 05 thôn của xã Bạch Ngọc (Khuổi Vài, Khuổi Dò, Minh Thành, Ngọc Lâm, Ngọc Sơn), bao gồm: 03 dòng họ Giàng, 02 dòng họ Thào và 01 dòng họ Vàng.
2. Sinh kế của người Hmông tại xã Bạch Ngọc có điểm gì khác biệt so với đồng bào Hmông ở các huyện vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Hà Giang?
Khác với người Hmông vùng cao núi đá lấy ngô làm lương thực chính và canh tác hốc đá, người Hmông tại xã Bạch Ngọc canh tác lúa (lúa nương và lúa ruộng nước) làm cây lương thực chủ đạo, tích trữ thóc ăn quanh năm. Đồng bào còn phát triển mạnh nghề trồng rừng kinh tế (gỗ keo, tre, chít), đào ao thả cá theo mô hình của người Tày, người Dao, và phụ nữ không còn trồng lanh dệt vải mà mua trang phục may sẵn.
3. Tình hình đạo Tin Lành tại xã Bạch Ngọc được văn bản ghi nhận như thế nào tính đến cuối năm 2018?
Đạo Tin Lành xuất hiện tại xã từ cuối những năm 1980 qua hoạt động của Dương Văn Mình và sóng truyền thanh từ Manila. Sau Chỉ thị 01/CT-TTg năm 2005, địa phương đã công nhận 04 điểm nhóm sinh hoạt thuộc hệ phái Tin Lành Miền Bắc Việt Nam. Tính đến 31/12/2018, toàn xã có 110 hộ với 548 tín đồ, phân bố tại thôn Khuổi Vài (39 hộ/192 tín đồ), Ngọc Lâm (37 hộ/198 tín đồ), Ngọc Sơn (24 hộ/100 tín đồ) và Khuổi Dò (10 hộ/58 tín đồ).
4. Dấu hiệu nhận biết sự khác biệt giữa các dòng họ truyền thống trong luận án được thể hiện qua yếu tố nào?
Dấu hiệu phân biệt dòng họ thể hiện rõ nhất qua cách bài trí bàn thờ tổ tiên tại gian giữa ngôi nhà, sơ đồ sắp đặt các bát cúng trong lễ cúng ma trâu (nhu đa), các bài cúng và điệu khèn - nhịp trống trong lễ tang ma, cùng các điều kiêng kỵ ăn uống riêng biệt của từng họ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Nhân học của tác giả Sầm Thị Dương là công trình nghiên cứu hệ thống, so sánh thiết chế dòng họ giữa nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa tại địa bàn xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Dựa trên nguồn tư liệu điền dã phong phú thu thập từ năm 2014 đến 2018, tác giả đã làm rõ cấu trúc, vai trò, quan hệ nội tộc - ngoại tộc của dòng họ cũng như sự biến đổi văn hóa khi một bộ phận đồng bào cải đạo theo Tin Lành. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt tư liệu học thuật nhân học tộc người mà còn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo tại địa phương.