Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Từ thế kỷ XVII, các nhà khoa học Phương Tây đã bắt đầu nghiên cứu về dòng họ, những người đi đầu đặt nền móng nghiên cứu về dòng họ phải nói đến Bacophen, Mac Lennan và L. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của họ là một số tộc người sinh sống ngoài các nước Phương Tây.
Khi nghiên cứu về lịch sử của gia đình nguyên thủy, các tác giả này đã phát hiện mối quan hệ thân tộc, quan hệ hôn nhân và sự phát triển của hình thái gia đình. Các phát hiện trên được tổng hợp trong tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước [54] của Ph. Ông đã trình bày kết quả nghiên cứu của L.Morgan theo quan điểm duy vật lịch sử.Morgan đã phát hiện tính thân tộc và đặc điểm (tục lệ) của thị tộc (dòng họ) khi nghiên cứu về thị tộc Irôqua (mẫu hệ) và thị tộc Hy Lạp (phụ hệ). Đó là những tục lệ về bầu và bãi miễn tù trưởng, nguyên tắc hôn nhân, sở hữu tài sản, quan hệ tương trợ, tín ngưỡng tôn giáo, tên gọi, quyền lực.
và bước đầu, ông đã đưa ra khái niệm về thân tộc (gens). Tuy nhiên, trong khuôn khổ nội dung tác phẩm L.Morgan mới chỉ luận giải một vài vấn đề liên quan đến dòng họ và chế độ thân tộc ở một số tộc người cổ đại, nên chưa mang tính hệ thống. Nhưng những nghiên cứu của L.Morgan đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của một số môn khoa học sau này, trong đó có Dân tộc học và Nhân học. Các học giả phương Tây khi nghiên cứu về mô hình quan hệ dòng họ trong hệ thống thân tộc cho rằng: Các dòng họ được xác định bằng mối quan hệ tổ tiên, vì vậy chúng có một bề dày thời gian.
Nguyên tắc quan hệ dòng họ bao gồm sự truyền lại và kết hợp; tư cách thành viên được truyền qua mối liên hệ cha mẹ - con cái và liên kết những người này thành một nhóm xã hội. Trong một số xã hội, tư cách thành viên trong một dòng họ sẽ quyết định cách thức người ta được huy động để phục vụ cho hành động xã hội. Có hai cách chính mà người ta thiết lập nên dòng họ: Cách thứ nhất, dòng họ được thiết lập bởi những người tin rằng, họ liên hệ với nhau bằng một quan hệ như nhau thông qua bên mẹ và bên cha. Điều này có nghĩa là, họ tin rằng, những mối quan hệ họ có với phía bên cha cũng giống như những mối quan hệ họ có với phía bên mẹ.
Các nhà nhân học gọi cách tính dòng họ như thế là 10 song hệ. Cách thứ hai, được gọi là dòng họ đơn hệ, được xây dựng trên giả định rằng, những mối quan hệ thân thuộc quan trọng nhất phải được tính qua hoặc phía cha hoặc phía mẹ. Những dòng họ này gồm những người có liên hệ với nhau chỉ thông qua những người nam hoặc chỉ thông qua những người nữ. Đây là loại dòng họ thông thường nhất trên thế giới hiện nay.
Các dòng họ đơn hệ hình thành từ những quan hệ thông qua phía cha thì được gọi là dòng họ phụ hệ và những dòng họ dựa trên những quan hệ thông qua phía mẹ thì được gọi là dòng họ mẫu hệ [18]. Những quan điểm trên được trình bày trong cuốn sách Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh. Tuy nhiên chủ yếu được luận giải chuyên sâu về lý thuyết, nên chỉ có thể tham khảo làm cơ sở nền tảng trong nhận thức về vấn đề dòng họ và thân tộc ở góc độ lý thuyết Nhân học. Công trình nghiên cứu Bức khảm văn hóa Châu Á [20] của Grant Evans, đã trình bày một cách hệ thống về lý thuyết cũng như những vấn đề chung và các vấn đề cụ thể của ngành Nhân học, được phân tích trên cơ sở của các dẫn liệu dân tộc học thu thập từ thực địa ở Châu Á.
Cuốn sách giành riêng chương 5, phân tích về tổ tiên và bà con thông gia, quan hệ họ hàng bên ngoài gia đình. Từ tư liệu nghiên cứu về các gia đình Châu Á, các nhà khoa học phương Tây thấy rằng, có hai loại họ hàng được tạo ra: họ hàng sinh học hoặc là huyết tộc và họ hàng tạo ra qua hôn nhân hoặc là quan hệ thân thuộc với họ nhà vợ hay họ nhà chồng. Họ đã sử dụng lý thuyết dòng họ và lý thuyết thông gia để phân tích về hôn nhân và thông gia đối với trường hợp người Hmông ở Trung Quốc và Đông Nam Á. Khi phân tích về các quan hệ hôn nhân cư trú bên chồng, các tác giả này chỉ ra bốn loại dòng họ: (1).
Dòng họ thuộc cùng một thị tộc (không thể tiến hành hôn nhân trong thị tộc do có quy tắc ngoại hôn); (2). Dòng họ cho vợ đi, người vợ ra khỏi dòng họ; (3). Dòng họ nhận vợ về, người vợ chuyển về dòng họ; (4). Những dòng họ khác không có quan hệ gì đặc biệt.
Cuốn sách viết theo hình thức đưa lý thuyết Nhân học vào phân tích các trường hợp cụ thể, qua đó chúng ta học được cách vận dụng lý thuyết để luận giải các trường hợp nghiên cứu. Tuy nhiên, do nội dung tự liệu bao trùm diện rộng - toàn Châu Á, nên các phân tích về dòng họ và thân tộc mặc dù có những ví dụ cụ thể về người Hmông nhưng cũng chỉ mang tính điểm qua. Nhà Nhân học người Mỹ, Robert Lowie với công trình Luận về xã hội học nguyên thủy [63], gồm 15 chương, đã tập trung trình bày về các vấn đề như: hôn nhân, gia đình, thị tộc, quan hệ họ hàng, tài sản, tổ chức xã hội, chính quyền, pháp luật. Mặc dù, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các thổ dân Da Đỏ ở châu Mỹ và 11 khảo cứu các xã hội nguyên thủy.
Nhưng với cách tiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và vận dụng lý thuyết chức năng để làm rõ các quan hệ dòng họ, họ hàng hai bên (họ nội, họ ngoại). Công trình thực sự có giá trị đối với luận án trong việc vận dụng lý thuyết Nhân học vào quá trình nghiên cứu. Đối với các nghiên cứu về người Hmông, tác giả luận án thừa kế các công trình nghiên cứu: Lịch sử người Mèo [19] của F. Savina, trình bày về nguồn gốc, sự hình thành tộc người Hmông.
Đây là một trong những tài liệu hiếm hoi có sự so sánh, tác giả đã so sánh thuyết hình hành vũ trụ của người Hmông với một số dân tộc cổ đại, thấy giống hệt truyền thuyết của người Chaldéc, người Lô Lô và có điểm tương đồng với những câu truyện kể trong chương đầu của cuốn sách “sáng tạo thế giới” (Genèse). Savina còn so sánh về trang phục giữa nhóm Hmông Trắng với các nhóm Hmông khác. Tác giả Guy Morechand, trong công trình Những đặc điểm của thuật saman của người Mèo Trắng ở Đông Dương [22], đã mô tả chi tiết về đặc điểm thuật saman của nhóm Hmông Trắng, với những nghi lễ như lên đồng, bói toán và gọi hồn. Tác giả phát hiện thuật ra sa man của người Hmông Trắng có sự tương đồng với đặc điểm cấu trúc của thuật sa man Châu Á, đồng thời nhận định rằng, nguồn gốc của người Hmông Trắng có mối liên quan đến vùng Trung Á.
Khi phân tích tổ chức chính trị của người Hmông, tác giả đã đề cập đến vấn đề dòng họ, quan hệ của những người cùng họ và bước đầu đưa ra khái niệm dòng họ với tên gọi là “Xeem”. Tuy nhiên, do nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thuật sa man nên vấn đề dòng họ chưa được đề cập sâu. Nhưng tài liệu lại có giá trị đối với luận án khi tiến hành nghiên cứu so sánh, do tập trung nghiên cứu sâu về nhóm Hmông Trắng, nên trở thành tư liệu để so sánh với nhóm khác. Hơn nữa, việc phát hiện một số đặc điểm văn hóa của các nhóm Hmông, nhất là về tên gọi của mỗi nhóm được phân biệt theo trang phục của nữ giới,.
là cơ sở để tham khảo trong việc so sánh văn hóa giữa các nhóm Hmông [22, tr. Nghiên cứu về Một làng người Hmông Xanh ở Thượng Lào [36] của Jacques Lemoine đã mô tả về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, gia đình, hôn nhân, hệ thống thân thích của người Hmông Xanh ở làng Pha hok. Trong đó, vấn đề dòng họ được trình bày riêng và phân tích khá tỷ mỷ, từ cách nhận anh em, một số kiêng kỵ, đến các mối quan hệ, cũng như nguyên tắc ứng xử. Để làm rõ các thuật ngữ chỉ quan hệ dòng họ, tác giả đã liệt kê hệ thống thuật ngữ thân thích, đồng thời so sánh hệ thống thuật ngữ này giữa phương ngôn Hmông Xanh và Hmông Trắng.
Mặc dù cuốn sách 12 chủ yếu nghiên cứu về nhóm Hmông Xanh tại một làng, nhưng lại có giá trị đối với vấn đề nghiên cứu so sánh về mặt thuật ngữ thân thích, cũng như vấn đề dòng họ đối với đề tài luận án. Cuốn sách Hmong: History of a people (Hmông: Lịch sử một dân tộc) của Keith Quincy [39] là một nghiên cứu được phân tích tổng hợp từ nhiều tư liệu liên quan đến người Hmông trên thế giới. Nội dung được chia làm 11 chương, phán ánh về nguồn gốc và những biến cố quan trọng trong tiến trình lịch sử tộc người này. Tuy chưa đề cập sâu đến vấn đề dòng họ, nhưng việc phân tích về truyền thuyết đã cung cấp tư liệu tham khảo cho luận án ở góc độ tìm hiểu sự hình thành các dòng họ.
Đặc biệt ở truyền thuyết lý giải về sự phân nhóm địa phương (05 nhóm) của người Hmông, mà cách thức để phân biệt nhóm thông qua trang phục, có ý nghĩa trong việc khẳng định chức năng của trang phục đối với việc phân loại nhóm và cũng là cơ sở để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm địa phương. Một nghiên cứu có tính tổng hợp khác của Gary Lee và Nick Tapp với bài viết Các vấn đề về dân tộc Hmông hiện nay: 10 điểm chính [20], đã đưa ra các vấn đề cần làm sáng tỏ về người Hmông. Mặc dù các phân tích rất khái quát, nhưng cũng đã đề cập đến vấn đề dòng họ (luận điểm 5), chỉ ra cách thức người ta xác định mối quan hệ họ hàng. Đồng thời làm rõ mặt tiêu cực của tâm lý cố kết dòng họ người Hmông, điểm mà người bên ngoài dễ lợi dụng gây tổn hại tới tộc người.