chương 1 Hiện nay trên thực tế cũng như trong các sách, báo đang tồn tại rất nhiều khái niệm để chỉ một lĩnh vực hoạt động văn hóa tín ngưỡng của con người — lĩnh vực tam linh. Cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, ngay từ thời thượng cổ, người Việt Nam dù là thuộc dân tộc Kinh, Tày, Nùng hay Ê đê, Giarai, Bana. Và trong tiến trình lịch sử của mình, người Việt Nam đã sáng tạo và thực hành rất nhiều loại hình tín ngưỡng. Trong các tín ngưỡng ấy, người Việt có xu hướng Nữ tính hóa các hiện tượng tự nhiên, biến các vị thần tự nhiên trở thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Mẹ/ Mẫu.
Trong vũ trụ bao la và huyền bí, người Việt có xu hướng dé cao, tôn vinh con người ở vị trí trung tâm (“người ta là hoa của đất”). Sự sùng bái con người, con người thực và con người huyền thoại đã làm nên một tín ngưỡng có nhiều điểm đặc biệt của người Việt Nam. Đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giống noi dân tộc, đó là sợi dây cé kết cộng đồng dân tộc luôn vững vàng và chiến thắng trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Trong mỗi gia đình, dòng họ người Việt lại có tục thờ cúng tổ tiên gần gũi: ông, bà, cha, mẹ - những người đã sinh thành ra mình. Như vậy, mỗi con người Việt Nam ngoài mái ấm gia đình với những người thân yêu ruột thịt còn có một gia đình lớn hơn đó là Tổ quốc- Dat nước.
Với lòng tin tưởng vào thế giới tam linh người Việt luôn sử đụng nhiều vàng mã để dâng cúng các vị | Tổ tiên, Thánh Mẫu. Bên cạnh đó, ngay từ đầu công nguyên, Đạo Phật đã được du nhập vào Việt Nam và có thời kì được coi như Quốc giáo của người Việt. Đây cũng là một tôn giáo đang được nhân dân dùng vàng mã để lễ bái, cầu cúng. Tóm lại, tín ngưỡng, phong tục Việt Nam là sản phẩm văn hóa của a người Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội.
Trải qua trường kì lịch sử, bao biến thiên của xã hội, bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hóa cùng dâu bề cuộc đời, các tín ngưỡng của người Việt nói chung cũng luôn vận động, bám sát cuộc sống, phát triển cùng cuộc sống. Nhiều lớp văn hóa khác nhau đã tích hợp hoặc chéng/lap lên nhau trong một loại tín ngưỡng và do đó- có sức sông bên bỉ trong đời sông của người dân. 16 Chương 2 TONG QUAN VE LANG VĂN HOI 2. Vị trí địa lí - Cảnh quan tự nhiên Làng Văn Hội thuộc xã Văn Bình, huyện Thường Tín, Hà Nội (có 3 làng: Văn Hội, Văn Giáp và Bình Vọng).
Theo quốc lộ 1A xuống phía Nam, đến km số 18, rẽ tay trái qua làng Văn Giáp là đến làng Văn Hội. Phía Đông, giáp xã Liên Phương; phía Tây, giáp làng Văn Giáp; phía Nam, giáp làng Bình Vọng; phía Bắc, giáp xã Duyên Thái. Tổng diện tích của làng là 145,8 ha trong đó đất canh tác 88,8 ha. Về mặt dân cư, cả làng có 1005 hộ, gần 4000 người thuộc 9 dòng họ 26 chỉ hợp thành, tất cả đều sống đoàn kết thương yêu nhau.
Chạy dọc quốc lộ 1A cũ, qua địa phận Thanh Trì hỏi thăm làng Văn Hội, chẳng mấy ai không biết. Người ta biết đến Văn Hội nhiều cũng bởi tiếng tăm “có một không hai” của ngôi làng này. Người gọi Văn Hội bằng cái tên “làng vàng ma”, kẻ khác gọi “công xưởng chế tác đồ cúng”. thế nhưng, dù “biệt danh” có được đặt như thế nao thì tựu trung, đây vẫn là ngôi làng chuyên làm các vật dụng phục vụ cho cõi người âm.
Theo như lời kể của các cụ già nhất trong làng thì làng Văn Hội xưa là một vùng đất đồng bằng bằng phẳng, có địa thế tương đối đẹp, nằm ở bên trong nên ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt thuận lợi về giao thông giữa các vùng. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ trong vùng có cây cối tốt tươi và cũng có nhiều ao, đầm. Văn Hội nằm trong khí hậu nhiệt đới âm gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông Bắc như thủ đô Hà Nội. Nằm cách chợ huyện 3km (chợ Vồi), có con đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Gié chạy qua cánh đồng làng.
Văn Hội là nơi thuận lợi để buôn bán, giao thông với Các đầu mối trung tâm. Vì hoàn toàn nằm sâu bên trong nên Văn Hội không bị ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, giải tỏa hành lang giao thông như hai làng Văn Giáp, Bình Vọng. Làng có một không gian yên tĩnh, không khí trong lành, thanh bình như vẻ vốn có của một làng quê Việt Nam. Bên cạnh đó Văn Hội cũng không chịu sự ảnh hưởng của thiên tai hay lũ lụt nên việc lao động sản xuất gặp nhiều thuận lợi.
Tên gọi và lịch sử hình thành làng Văn Hội là ngôi làng nam ở vị trí trung tâm của Xã Văn Bình, cả xã có 10 xóm thì Văn Hội-có 4 xóm số thứ tự cũng là ở giữa: 4, 5, 6, 7. Trước đây Văn Hội có tên là Văn Nội là vì ở bên trong (nội là trong). Văn Nội: “Văn” là vẻ đẹp, “Nội” là bên trong — là vẻ đẹp nằm ở bên trong. Tuy nhiên vào những giai đoạn sau, “Văn Nội” được đổi tên thành “Văn Hội”- Hội tụ tinh hoa văn hóa cũng như sự hội tụ của nhiều đòng họ tới Văn Hội sinh sống.
Hiện nay, chưa có một tài liệu nào ghi chép cụ thể về lịch sử hình thành của làng Văn Hội. Nhưng câu chuyện được các cụ già truyền lại cho con cháu về nguồn gốc hình thành làng, những cư dân đầu tiên đến sinh sống ở mảnh đất này là “Vào một ngày, có một anh nông dân nghèo họ Đào, mồ côi cha mẹ phải làm nghề đơm đó quanh vùng kiếm ăn. Men theo dong nước sông chang quên cả trời đã xế bóng mà chưa quay về. Đang lúc lo lắng, anh ngắm nhìn nơi đây thấy cảnh vật tốt tươi, lại có điều kiện tự nhiên thuận lợi mà lại chưa có bóng người sinh sống.
Anh nông dân đi thăm thú một vòng và nghĩ đây là một vùng đất có địa thế dé có thé sinh cơ lập nghiệp. Vậy là anh ngủ lại trên ven bờ và nướng cá ăn nghỉ lại qua đêm. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, anh dựng túp lều làm nhà và lấy vợ sinh con đẻ cái. Từ đó mà có người sinh sống trên đất này”.
Một thời gian ngắn sau lại có một người họ Trần đến sinh cơ lập nghiệp trên đất này. Vì người họ Trần vốn là người giàu có, và dòng họ làm quan nhiều đời nên họ Trần là dòng họ góp nhiều công sức trong việc xây dựng và phát triển đất Văn Hội. Người dân tưởng nhớ công ơn của những người khai làng mở ấp đã tôn họ thành Thành Hoàng làng và lấy ngày 10/3 cùng với ngày giỗ Tổ của cả nước làm ngày giỗ Thành hoàng làng Văn Hội. Mặc dù có sự tranh cãi giữa hai dòng họ về đòng họ đầu tiên khởi nghiệp nơi đây, và cuộc tranh cãi này cho đến ngày nay vẫn còn tiếp tục thì dân làng vẫn phải ghi nhận đóng góp của cá hai dòng họ Đào và Trần trong việc khai phá và phát triển làng Văn Hội.
Điều này thể hiện trong việc thờ cúng Thành hoàng làng. Thành hoàng làng Văn Hội là người có công mở đất xây dựng xóm làng và việc người dân chấp nhận cách đọc tên của cả hai họ Đào và Trần trong lời văn khan là “Dao Tran tiên tổ” hay “Trần Đào tiên tổ” hoặc “Dao gia tiên té- Trần gia khởi tổ” đã thé hiện sự đóng góp của cả hai dòng họ Đào- Trần đối với làng Văn Hội. Trước đây, làng Văn Hội gọi là xã Văn Hội thuộc tổng Thượng Cung, Huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, một phủ lớn của tran Sơn Nam cũ. “Sắc xã Văn Hội, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông” >.
Tháng 4 năm 1946, hai xã Văn Giáp, Văn Hội sáp nhập thành xã Giáp Hội. Giữa năm 1948, thành lập xã Cộng Hòa gồm năm thôn (làng): Văn Giáp, Văn Hội, Bình Vọng, Bạch Liên, Phương Quế. Năm 1949, xã Cộng Hòa đổi tên là Bạch Đằng. Cuối năm 1954, xã Cộng Hòa tách thành 2 xã : xã Bạch Đăng gồm ba thôn : Văn Giáp, Văn Hội, Binh Vong; xã Liên Phương gồm hai thôn: Bạch Liên, Phương Quế.
Từ năm 1971 trở đi, xã Bạch Đằng đổi tên là Văn Bình, như vậy từ năm 1971 thì Văn Hội thuộc xã Văn Bình. Nay làng gồm 4 xóm: 4,5,6,7, thuộc xã Văn Bình, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (từ tháng 8/2008 thuộc thành phố Hà Nội). Trong kháng chiến chống Pháp nhiều gia đình trong làng đào hầm tại nhà nuôi giấu cán bộ như gia đình cụ Giá, cụ Nhu. Đặc biệt có liệt sĩ cảm tử quân Bùi Văn Vòng ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch giữa đường phố Hà Nội.
Trải qua các cuộc kháng chiến và bảo vệ Tô quốc nhân dân làng Văn Hội đã tiễn lớp lớp người con lên đường bảo vệ Tổ quốc. Làng có 64 liệt sĩ, 2 gia đình cụ Bùi Văn Ve và cụ Lê Trung Bài có 2 con là liệt sĩ. 22 Thương binh, 20 bệnh binh. Có 2 mẹ Nguyễn Thị Tĩnh và Chu Thị Sẻ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
- Hòa bình lập lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Văn Hội tích cực tham gia các phong trào thi đua như: chăm sóc, bảo vệ trẻ em được Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Định về thăm tháng 7 năm 1979. Văn Hội là một ngôi làng ven đô, do quá trình Công nghiệp hóa, Hiện. đại hóa nông thôn diễn ra nên cảnh quan văn hóa của làng đã có những biến - đổi nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn giữ được nhiều kết cầu của một làng Việt cô truyền “cây đa- bến nước- sân đình”. Khái quát tình hình kintế Nền kinh tế ở Văn Hội là sự hòa lẫn, kết hợp chặt chẽ của 3 thành phần kinh tế: công, nông, thương nghiệp.
Hầu hết người dân trong làng vẫn làm nông nghiệp trồng lúa. Một số gia đình vẫn thâm canh, luân canh trồng đậu tương vào vụ đông trên ruộng cấy. Sản xuất nông nghiệp đã từng bước được cơ giới hóa, và được áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật mới. Hiện nay, ở Văn Hội không còn hình ảnh “con trâu đi trước- cái cày theo sau” nữa mà toàn bộ việc cày bừa được giao cho máy cày, máy suốt lúa cũng được sử dụng trên 15 năm nay.