Chương 1 giới thiệu tổng quan về báo cáo nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình lý thuyết. Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu giới thiệu cơ sở lý thuyết về chất lượng sống sinh viên, động cơ học tập, kiên định học tập và giá trị học tập của sinh viên.
Phần tiếp theo đề xuất mô hình cơ bản và các giả thuyết về mối quan hệ giữa động cơ học tập, giá trị học tập, kiên định học tập với chất lượng sống sinh viên. Chất lượng sống sinh viên (Quality of college life of students) Chất lượng sống nói chung (Quality of life - QOL) và chất lượng sống trong học tập của sinh viên nói riêng (Quality of college life of students – QCL) là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chất lượng sống (QOL) Chất lượng sống (QOL) là một khái niệm đa hướng và phức tạp được hiểu và đo lường theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể được định nghĩa là mức độ thỏa mãn toàn diện của con người về cuộc sống của họ (Vaez và cộng sự, 2004).
Theo Sirgy và cộng sự (2007), cần phải phân biệt giữa ba loại nghiên cứu liên quan đến sinh viên và chất lượng cuộc sống (QOL): (a) nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng sống (QOL) và các yếu tố như tính cách, sức khỏe của sinh viên, và môi trường; (b) nghiên cứu phát triển cách thức đo lường QOL phù hợp với sinh viên đại học, những nghiên cứu này tập trung vào QOL của sinh viên đại học nói chung, và (c) nghiên cứu phát triển các cách thức đo lường QCL của sinh viên. Vaez và cộng sự (2004) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức về QOL và sức khỏe của sinh viên đại học. Cha (2003) tìm thấy mối quan hệ giữa hạnh phúc, lòng tự trọng, sự lạc quan có ảnh hưởng đến QOL. (b) Dạng thứ hai của nghiên cứu là tập trung vào sự phát triển thang đo QOL của sinh viên đại học.
Ví dụ, Bloom (1971) cho thấy QOL liên quan đến 6 khía cạnh: kiến thức, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Nghiên cứu của Disch et al., (2000) cho thấy sinh viên quan tâm và lo lắng đến 10 khía cạnh của cuộc sống như: rượu và ma túy, hành vi xã hội và tình dục, quỹ thời gian, tài chính, thể chất và tinh thần, đa văn hóa và các vấn đề về giới, tác phong học tập, nghề nghiệp và việc làm, tội phạm và các vấn đề bạo lực, lối sống. Theo Michalos (1993) thì QOL bao gồm 12 lĩnh vực: y tế, tài chính, gia đình, công việc, bạn bè, nhà ở, đối tác, vui chơi giải trí, tôn giáo, lòng tự trọng, giao thông vận tải, giáo dục. (c) Chất lượng sống trong học tập của sinh viên đại học (QCL) chỉ là một trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống nói chung, đóng vai trò quan trọng đối với sự hài lòng của cuộc sống.
Phần tiếp theo sẽ làm rõ các khái niệm về QCL, cũng như những nghiên cứu liên quan đến QCL. Chất lượng sống trong học tập của sinh viên (QCL) Theo Sirgy và cộng sự (2007), chất lượng sống trong học tập của sinh viên đại học hay gọi tắt là chất lượng sống sinh viên (QCL) là tổng thể cảm giác của sinh viên hài lòng với trải nghiệm cuộc sống ở trường đại học. Hay nói cách khác, chất lượng sống sinh viên là mức độ thỏa mãn về giá trị tri thức, kinh nghiệm tích lũy trong suốt quá trình sống và học tập tại trường đại học, và điều này mang lại cảm xúc tích cực cho sinh viên. 123doc 7 Để xác định chất lượng sống sinh viên, Sirgy và cộng sự (2007) đã tập hợp nhóm các sinh viên và đặt câu hỏi về cảm xúc của sinh viên khi học tại trường: a) Nói chung bạn hài lòng như thế nào về chất lượng sống tại trường bạn đang học, nghĩa là hài lòng với các hoạt động học tập và xã hội của trường? b) Riêng cá nhân bạn, bạn hài lòng như thế nào về chất lượng sống tại trường đại học? c) Bạn sẽ nói gì với bạn mình rằng bạn hài lòng với chất lượng sống tại trường đại học? Và cũng dựa trên cơ sở này, Sirgy và cộng sự (2007) đã khái quát chất lượng sống sinh viên có thể được xem là mức độ thỏa mãn toàn diện của sinh viên trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường đại học.
Sự thỏa mãn toàn diện của sinh viên đối với quá trình học tập trong trường đại học được đánh giá dựa vào sự thỏa mãn của họ về giảng viên, trang thiết bị học tập, cung cách đối xử của nhà trường, quan hệ bạn bè, và các hoạt động ngoại khóa. Các nghiên cứu về chất lượng sống sinh viên (QCL) có thể chia thành hai hướng. Hướng thứ nhất nghiên về mối quan hệ giữa chất lượng sống sinh viên (QCL) với các yếu tố khác (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) và hướng thứ hai tập trung vào cách thức đo lường chất lượng sống sinh viên (QCL) (Sirgy và cộng sự, 2007). Nghiên cứu này đi theo hướng thứ nhất, xem xét các yếu tố tác động vào chất lượng sống sinh viên.
Có nhiều nghiên cứu về các yếu tố có quan hệ với chất lượng sống sinh viên. Lấy ví dụ, mô hình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) cho thấy động cơ học tập, kiên định học tập và giá trị học tập có ảnh hưởng đến chất lượng sống của sinh viên (QCL). Bài nghiên cứu đã ứng dụng lý thuyết trong tâm lý xã hội (lý thuyết về động cơ, giá trị, tính kiên định, chất lượng sống) vào ngành giáo dục và giả thuyết rằng các yếu tố động cơ học tập, giá trị học tập và kiên định học tập có ảnh hưởng cùng chiều đến chất lượng sống của sinh viên, và nghiên cứu cũng đề ra kì vọng 123doc 8 về sự khác biệt giữa trường đại học công lập và ngoài công lập. Và cũng theo nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2012), một nghiên cứu gần đây về chất lượng sống của sinh viên ở Việt Nam, đã đưa ra mô hình nghiên cứu về chất lượng sống sinh viên, với giả thuyết là chất lượng sống của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi yếu tố động cơ học tập và tính kiên định trong học tập.
Và hơn thế nữa, tính kiên định trong học tập (gói tắt là tính kiên định) cũng có tác động cùng chiều đến động cơ học tập. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố giá trị học tập là một biến điều tiết có tác động lên mối quan hệ giữa tính kiên định và chất lượng sống; động cơ học tập và chất lượng sống. Sau khi xem xét và phân tích các mô hình nghiên cứu về chất lượng sống của sinh viên ở trong và ngoài nước, tác giả đã chọn mô hình nghiên cứu chất lượng sống khối ngành kinh tế của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) để làm cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu này. Bởi lẽ, các nghiên cứu về chất lượng sống sinh viên có thể được chia thành hai hướng: Hướng nghiên cứu thứ nhất thiên về mối quan hệ giữa chất lượng sống sinh viên với các yếu tố khác (Nguyen & Nguyen, 2009; Nguyen & cộng sự, 2012; Vaez & cộng sự, 2004; Cha, 2003; Chow, 2004).
Và hướng nghiên cứu thứ hai tập trung đo lường chất lượng sống của sinh viên (Sirgy & cộng sự, 2007; Yu & Lee, 2008; Yu & Kim, 2008). Và bài nghiên cứu này đã theo hướng nghiên cứu thứ nhất. Hơn nữa, các nghiên cứu của Vaez và cộng sự (2004); Cha (2003); Chow (2004) thiên về QOL hơn là QCL. Chính vì lý do đó mà tác giả đã chọn mô hình nghiên cứu của Nguyen và Nguyen (2009) làm cơ sở cho bài nghiên cứu này.
Động cơ học tập của sinh viên (Learning motivation) Khái niệm động cơ học tập được xây dựng dựa trên khái niệm động cơ hoạt động. Trong tâm lí học có nhiều quan niệm khác nhau về động cơ hoạt động của con người, song điểm chung thống nhất trong các cách nhìn nhận về hiện tượng tâm lí này là xem động cơ là sự định hướng, kích thích, thúc đẩy và duy trì hoạt động/hành vi của con người. Hay nói cách khác, “Động cơ là yếu tố tâm lí phản ánh đối tượng có khả năng 123doc 9 thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, nó định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động của chủ thể nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó” (Dương Thị Kim Oanh, 2013). Theo Edmondson (1997) đưa ra định nghĩa về động cơ học tập như sau: “Động cơ học tập là sự sẵn sàng đầu tư thời gian, sức lực và các tiềm lực khác của con người trong một khoảng thời gian dài, để đạt được một mục đích đã đặt ra trước của bản thân”.
Khái niệm động cơ học tập có thể được dùng để giải thích vì sao con người hành động và duy trì hành động của họ và giúp họ hoàn thành những nhiệm vụ hay công việc đề ra (Pintrich, 2003). Theo đó, nhà nghiên cứu Noe (1986), định nghĩa động cơ học tập được xác định như một mong muốn được tham gia và hoàn thành những nội dung của một môn học hay chương trình học. Có rất nhiều mô hình về động cơ, tuy nhiên ba yếu tố tổng quát sau đây thường hiện diện trong hầu hết các mô hình về động cơ. Yếu tố thứ nhất là kỳ vọng (expectancy component) dùng để biểu thị niềm tin về khả năng hay kỹ năng để hoàn thành công việc của con người.
Yếu tố thứ hai là giá trị (value component) dùng để thể hiện niềm tin về tầm quan trọng, sự thích thú, và lợi ích của công việc. Thứ ba là cảm xúc (affective component) dùng để thể hiện cảm xúc của con người thông qua phản ứng mang tính cảm xúc về công việc (Pintrich, 2003). Trong nghiên cứu này, tác giả cũng xem xét động cơ học tập của sinh viên dựa trên ba yếu tố nói trên. Trong giáo dục, sự khác biệt về khả năng cũng như động cơ học tập của sinh viên ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và giảng dạy đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung trong nhiều năm (Cole & ctg, 2004; Noe, 1986), động cơ học tập của sinh viên (gọi tắt là động cơ học tập) được định nghĩa là lòng ham muốn tham dự và học tập những nội dung của môn học hay chương trình học.
Theo Cole và cộng sự (2004) thì động cơ học tập là quá trình quyết định của sinh viên về định hướng, mức độ tâp trung và nỗ lực của sinh viên trong quá trình học tập.