Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội đã nhấn mạnh định hướng phát triển BHXH tự nguyện dựa trên sự đóng góp của người lao động không có quan hệ lao động, kết hợp với sự hỗ trợ phù hợp từ ngân sách nhà nước nhằm mở rộng diện bao phủ, hướng tới mục tiêu an sinh toàn dân.
Tuy nhiên, từ khi Luật BHXH năm 2006 có hiệu lực và tiếp đó là Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016), việc triển khai loại hình BHXH tự nguyện đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cả về quy định thể chế lẫn công tác tổ chức thi hành. Tỷ lệ lao động tham gia loại hình này trên phạm vi toàn quốc nói chung và tại các đô thị lớn nói riêng vẫn ở mức thấp so với quy mô lực lượng lao động trong khu vực phi chính thức.
Thành phố Hà Nội là Thủ đô, đô thị loại đặc biệt, trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục và kinh tế lớn của cả nước. Với diện tích 3.359,84 km² và quy mô dân số trên 8,43 triệu người, Hà Nội có lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt trên 4 triệu người. Mặc dù các cấp chính quyền thành phố đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy an sinh xã hội, thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện trên địa bàn vẫn còn khoảng cách lớn so với tiềm năng. Từ bối cảnh đó, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hà Nội".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quy định pháp luật về BHXH tự nguyện, đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 6 tháng đầu năm 2023, từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận chung về BHXH tự nguyện (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, vai trò và sự cần thiết điều chỉnh pháp luật).
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về BHXH tự nguyện và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn Hà Nội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về BHXH tự nguyện (tập trung vào Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành) cùng thực tiễn thực hiện loại hình bảo hiểm này tại thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chuyên ngành Luật An sinh xã hội về đối tượng tham gia, mức phí, phương thức đóng và các chế độ hưởng; không đi sâu vào các vấn đề xử lý vi phạm hành chính hay giải quyết tranh chấp pháp lý.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội (bao gồm 30 đơn vị hành chính cấp huyện: 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã).
- Phạm vi thời gian: Khung pháp lý căn cứ vào Luật BHXH năm 2014, Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản có hiệu lực đến năm 2023 (có đối chiếu Luật BHXH năm 2006); số liệu thực tiễn được khảo sát, tổng hợp từ năm 2020 đến hết tháng 6 năm 2023.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống lập luận dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội. Về mặt học thuật chuyên ngành, tác giả tiếp thu khung lý thuyết từ Giáo trình Luật An sinh xã hội của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, kết hợp tham chiếu chuẩn mực an sinh quốc tế trong Công ước số 102 (năm 1952) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Khung pháp lý trực tiếp được sử dụng gồm:
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Bộ luật Lao động năm 2019 (Điều 219 sửa đổi điều kiện hưởng lương hưu);
- Nghị định số 134/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện;
- Nghị định số 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu;
- Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025;
- Nghị định số 24/2023/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
- Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
- Thông tư số 18/2022/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về hồ sơ, thủ tục hưởng BHXH một lần;
- Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND ngày 06/7/2022 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện.
Tác giả phối hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm lý luận, quy định pháp luật hiện hành và tổng hợp các số liệu thực tiễn để rút ra các đánh giá, kết luận khoa học.
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: Thu thập, xử lý và phân loại các bảng biểu, số liệu hành chính từ các phòng nghiệp vụ của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội (Phòng Thu - Sổ thẻ, Văn phòng), Cục Thống kê và UBND thành phố Hà Nội.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quy định giữa Luật BHXH năm 2006 và năm 2014; so sánh cơ chế hoạt động của BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện; đối chiếu mô hình BHXH tự nguyện của Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ); so sánh tương quan phát triển giữa các quận, huyện trên địa bàn Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện, pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện và quy định hiện hành của Việt Nam về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện dưới hai góc độ kinh tế và pháp lý. Dưới góc độ pháp lý, BHXH tự nguyện là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, người tham gia được tự do lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất, đồng thời được Nhà nước hỗ trợ một phần tiền đóng.
Tác giả phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của BHXH tự nguyện:
- Chủ thể tham gia chủ yếu là lao động tự do, lao động tự tạo việc làm, nông dân, xã viên (khu vực phi chính thức) không thuộc diện BHXH bắt buộc;
- Hoạt động dựa trên sự tự nguyện về ý chí, có tính linh hoạt và mềm dẻo về phương thức và mức đóng;
- Khác với thông lệ quốc tế (thường bao gồm nhiều chế độ hoặc áp dụng hưu trí bổ sung), pháp luật Việt Nam hiện mới chỉ thiết kế 02 chế độ: hưu trí và tử tuất;
- Được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm tính trên mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (áp dụng từ ngày 01/01/2018 theo Nghị định số 134/2015/NĐ-CP: 30% đối với hộ nghèo, 25% đối với hộ cận nghèo, 10% đối với các đối tượng khác; thời gian hỗ trợ tối đa 10 năm/120 tháng).
Về mặt quy định pháp luật thực định, chương này phân tích chi tiết:
- Đối tượng tham gia: Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc (theo khoản 4 Điều 2 Luật BHXH năm 2014 và Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH).
- Mức đóng và phương thức đóng: Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập do người lao động lựa chọn. Mức thu nhập đóng thấp nhất bằng chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (1.500.000 đồng/tháng theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, tương đương mức đóng thấp nhất 330.000 đồng/tháng từ ngày 01/01/2022); mức thu nhập đóng cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (mức lương cơ sở 1.800.000 đồng từ ngày 01/07/2023 theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, tương đương mức trần thu nhập 36.000.000 đồng/tháng và mức đóng tối đa 7.920.000 đồng/tháng). Phương thức đóng gồm: hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần; đóng một lần cho nhiều năm về sau (không quá 5 năm); đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thiếu không quá 10 năm (120 tháng) để đủ 20 năm đóng.
| Nhóm đối tượng tham gia |
Mức thu nhập chuẩn (đồng/tháng) |
Mức đóng hàng tháng (22%) |
Tỷ lệ Nhà nước hỗ trợ (%) |
Số tiền Nhà nước hỗ trợ (đồng/tháng) |
Số tiền thực đóng hàng tháng (đồng) |
| Hộ nghèo |
1.500.000 |
330.000 |
30% |
99.000 |
231.000 |
| Hộ cận nghèo |
1.500.000 |
330.000 |
25% |
82.500 |
247.500 |
| Đối tượng khác |
1.500.000 |
330.000 |
10% |
33.000 |
297.000 |
- Các chế độ hưởng:
- Chế độ hưu trí: Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng đòi hỏi đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và đạt độ tuổi nghỉ hưu theo lộ trình của Bộ luật Lao động năm 2019 (năm 2021 nam đủ 60 tuổi 03 tháng, nữ đủ 55 tuổi 04 tháng; mỗi năm tăng thêm 03 tháng với nam đến 62 tuổi vào năm 2028, tăng 04 tháng với nữ đến 60 tuổi vào năm 2035). Mức lương hưu tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 20 năm đóng (nam) hoặc 15 năm đóng (nữ), sau đó mỗi năm tăng thêm 2%, tối đa đạt 75%. Người đang hưởng lương hưu được cấp thẻ BHYT miễn phí với mức hưởng 95% chi phí khám chữa bệnh. Các trường hợp không đủ điều kiện hưu trí được nhận BHXH một lần theo Điều 77 Luật BHXH năm 2014 và Thông tư số 18/2022/TT-BYT.
- Chế độ tử tuất: Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở khi người tham gia có từ đủ 60 tháng đóng BHXH trở lên hoặc đang hưởng lương hưu. Trợ cấp tuất một lần cho thân nhân tính theo số năm đã đóng BHXH (1,5 tháng mức bình quân thu nhập cho các năm trước 2014; 02 tháng cho các năm từ 2014 trở đi; tối đa 02 tháng thu nhập bình quân nếu đóng chưa đủ 1 năm) hoặc căn cứ vào thời gian đã nhận lương hưu.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Thành phố Hà Nội
Chương 2 phản ánh tình hình thực hiện pháp luật trên địa bàn Hà Nội qua hệ thống dữ liệu hành chính và thống kê từ năm 2020 đến 6 tháng đầu năm 2023. Bộ máy BHXH thành phố Hà Nội gồm khoảng 1.377 cán bộ, công chức, viên chức (85 thạc sĩ, 1.005 cử nhân đại học), trực tiếp quản lý và thực hiện chính sách trên 30 quận, huyện, thị xã.
Về số lượng người tham gia, số liệu thống kê cho thấy sự tăng trưởng liên tục qua các năm:
| STT |
Năm khảo sát |
Số người tham gia BHXH tự nguyện (người) |
Tỷ lệ so với lực lượng lao động (%) |
Tốc độ tăng trưởng so với năm trước (%) |
| 1 |
2020 |
44.571 |
0,81% |
- |
| 2 |
2021 |
63.304 |
1,30% |
42,00% |
| 3 |
2022 |
75.051 |
1,50% |
18,56% |
| 4 |
6 tháng đầu năm 2023 |
76.296 |
1,60% |
1,66% |
Tính đến hết tháng 6/2023, số người tham gia BHXH tự nguyện tại Hà Nội (76.296 người) chiếm 5,4% tổng số người tham gia BHXH tự nguyện của cả nước (1,418 triệu người). Cơ cấu độ tuổi tham gia năm 2022 phản ánh: nhóm 30 - 40 tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất (>60%), nhóm 50 - 60 tuổi chiếm khoảng 28% (chủ yếu là những người bảo lưu thời gian BHXH bắt buộc, đóng tiếp để đủ điều kiện nhận hưu), và nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm khoảng 12%.
Về kết quả phát triển chỉ tiêu đối tượng trong 6 tháng đầu năm 2023:
- 08 đơn vị có 03 chỉ tiêu phát triển đối tượng (số người tham gia, tỷ lệ tham gia, tốc độ phát triển) đều tăng gồm: Thạch Thất, Ba Đình, Đống Đa, Hà Đông, Thường Tín, Phúc Thọ, Ứng Hòa, Đan Phượng.
- 06 đơn vị có 03 chỉ tiêu đều giảm gồm: Hoài Đức, Gia Lâm, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng.
Điểm nổi bật trong tổ chức thực hiện tại Hà Nội là việc ban hành Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND ngày 06/7/2022 của HĐND Thành phố, quy định mức hỗ trợ thêm tiền đóng BHXH tự nguyện từ ngân sách địa phương (giai đoạn từ 01/8/2022 đến hết 31/12/2025). Hà Nội là địa phương có mức hỗ trợ cao nhất cả nước, gấp đôi mức quy định của Trung ương:
| Nhóm đối tượng |
Mức hỗ trợ của Trung ương |
Mức hỗ trợ thêm của TP. Hà Nội |
Tổng mức hỗ trợ thực tế tại Hà Nội |
| Hộ nghèo |
30% |
30% |
60% |
| Hộ cận nghèo |
25% |
25% |
50% |
| Đối tượng khác |
10% |
10% |
20% |
Ngoài ra, một số địa phương tự cân đối ngân sách để nâng mức hỗ trợ thêm: quận Long Biên hỗ trợ thêm 40% cho hộ nghèo và 50% cho hộ cận nghèo; huyện Gia Lâm và huyện Mê Linh hỗ trợ thêm 50% cho hộ cận nghèo.
Bên cạnh kết quả đạt được, tác giả chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân:
- Tỷ lệ bao phủ thấp: Số người tham gia đạt 76.296 người chỉ tương đương khoảng 1,6% - 1,75% lực lượng lao động trong độ tuổi, thấp hơn mức trung bình cả nước (>3%).
- Hiệu quả tuyên truyền còn khoảng cách: Phương thức truyền thông chủ yếu là gián tiếp qua báo đài, cổng thông tin điện tử; thiếu các hình thức tư vấn trực tiếp, vận động theo từng nhóm ngành nghề phi chính thức.
- Tâm lý so sánh tài chính và xu hướng hưởng BHXH một lần: Người dân có xu hướng so sánh việc đóng BHXH tự nguyện với gửi tiết kiệm ngân hàng (linh hoạt rút vốn ngắn hạn). Ngoài ra, quy định thanh toán BHXH một lần (đóng 0,96 tháng lương/năm vào quỹ hưu trí nhưng được thanh toán 1,5 - 2 tháng lương/năm) khiến nhiều người coi việc rút bảo hiểm một lần có lợi trước mắt hơn là chờ đợi 20 năm để hưởng lương hưu.
- Hạn chế từ thiết kế chính sách: Thiếu các chế độ bảo hiểm ngắn hạn (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động) khiến chính sách kém hấp dẫn đối với lao động nữ và lao động trẻ.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Thành phố Hà Nội
Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, Chương 3 đề xuất hai nhóm giải pháp:
Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện:
- Bổ sung quy định giảm thiểu việc hưởng BHXH một lần: Hoàn thiện cơ chế chính sách để giữ chân người tham gia trong hệ thống an sinh, thiết kế chế tài hoặc điều kiện chặt chẽ hơn đối với việc nhận trợ cấp một lần.
- Bổ sung các chế độ ngắn hạn: Nghiên cứu đưa thêm chế độ thai sản, trợ cấp ốm đau vào gói quyền lợi của BHXH tự nguyện để thu hút lao động trong độ tuổi sinh sản và lao động tự do.
- Giảm điều kiện thời gian đóng để hưởng lương hưu: Đề xuất giảm thời gian đóng tối thiểu từ 20 năm xuống còn 15 năm, từng bước hướng tới 10 năm nhằm tạo cơ hội cho những người tham gia khi đã lớn tuổi vẫn có khả năng nhận lương hưu hàng tháng.
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện tại Hà Nội:
- Đẩy mạnh và đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Đa dạng hóa hình thức truyền thông, tập trung vận động trực tiếp tại cơ sở, khu dân cư, tổ dân phố, phối hợp chặt chẽ với hệ thống đại lý thu và Bưu điện.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn, nghiệp vụ thu và quản lý dữ liệu cho đội ngũ cán bộ BHXH quận, huyện.
- Cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin: Đơn giản hóa quy trình đăng ký, đóng nộp qua các ứng dụng số (VssID, ngân hàng số), tạo thuận lợi tối đa cho người dân.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát: Đảm bảo thực hiện chi trả chế độ đúng đối tượng, phòng ngừa trục lợi quỹ bảo hiểm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn: Khóa luận tổng hợp và phản ánh bức tranh toàn diện về quá trình phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại Hà Nội từ năm 2020 đến tháng 6/2023. Số lượng người tham gia tăng từ 44.571 người (2020) lên 76.296 người (6 tháng 2023), tốc độ tăng trưởng đạt đỉnh vào năm 2021 với 42%.
- Đánh giá tác động của chính sách địa phương: Phân tích cụ thể cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù của HĐND thành phố Hà Nội theo Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND, chỉ rõ Hà Nội là địa phương đi đầu cả nước khi nhân đôi mức hỗ trợ đóng của Trung ương (hộ nghèo 60%, cận nghèo 50%, đối tượng khác 20%).
- Đề xuất giải pháp sửa đổi luật thực chất: Đưa ra 3 đề xuất sửa đổi lập pháp trọng tâm (giảm thời gian đóng hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm; bổ sung quyền lợi thai sản/ốm đau; siết chặt điều kiện hưởng BHXH một lần) và 4 nhóm giải pháp nghiệp vụ cho cơ quan BHXH địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn phạm vi nội dung ở các quy định cốt lõi về đối tượng, mức đóng và chế độ hưởng; chưa đi sâu vào cơ chế giải quyết tranh chấp pháp lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực BHXH tự nguyện. Về mặt dữ liệu, mốc thời gian thực tiễn chỉ giới hạn đến hết tháng 6 năm 2023, chưa phản ánh đầy đủ tác động dài hạn của việc tăng lương cơ sở lên 1.800.000 đồng (từ ngày 01/7/2023).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và chế tài xử lý vi phạm trong việc thực hiện chế độ BHXH tự nguyện; đánh giá tác động kinh tế - xã hội của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi khi giảm số năm đóng tối thiểu xuống 15 năm trên phạm vi toàn quốc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật An sinh xã hội, Luật Lao động, Quản lý công, Xã hội học; cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong hệ thống cơ quan BHXH và cơ quan quản lý nhà nước về lao động – thương binh và xã hội.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Bảng tổng hợp dữ liệu thống kê chi tiết về đối tượng, cơ cấu độ tuổi, và tốc độ tăng trưởng người tham gia BHXH tự nguyện tại 30 đơn vị hành chính của Hà Nội.
- Mô hình phân tích chính sách hỗ trợ tài chính từ ngân sách địa phương theo Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND của TP. Hà Nội.
- Luận cứ thực tiễn giải thích tâm lý lựa chọn rút BHXH một lần thay vì tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện của người lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức đóng BHXH tự nguyện thấp nhất và cao nhất hiện hành được quy định như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 87 Luật BHXH năm 2014, mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập lựa chọn. Thu nhập làm căn cứ đóng thấp nhất bằng chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (1.500.000 đồng/tháng theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP), tương đương mức đóng thấp nhất là 330.000 đồng/tháng. Thu nhập đóng cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (mức lương cơ sở 1.800.000 đồng từ 01/7/2023 theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, trần thu nhập 36.000.000 đồng/tháng), tương đương mức đóng tối đa là 7.920.000 đồng/tháng.
2. Chính sách hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện của thành phố Hà Nội có điểm gì vượt trội so với quy định chung của Trung ương?
Theo Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND áp dụng từ 01/8/2022 đến 31/12/2025, Hà Nội hỗ trợ thêm bằng đúng tỷ lệ của Trung ương, đưa tổng mức hỗ trợ lên gấp đôi: người thuộc hộ nghèo được hỗ trợ 60% (Trung ương 30% + Hà Nội 30%), hộ cận nghèo được hỗ trợ 50% (Trung ương 25% + Hà Nội 25%), và các đối tượng khác được hỗ trợ 20% (Trung ương 10% + Hà Nội 10%). Một số quận/huyện như Long Biên, Gia Lâm, Mê Linh còn dùng ngân sách cấp huyện hỗ trợ thêm cho người nghèo và cận nghèo.
3. Cơ cấu độ tuổi của người tham gia BHXH tự nguyện tại Hà Nội phân bố ra sao?
Theo số liệu thống kê năm 2022 của BHXH TP. Hà Nội, nhóm lao động trong độ tuổi từ 30 – 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (>60%); nhóm từ 50 – 60 tuổi chiếm khoảng 28% (chủ yếu là người từng đóng BHXH bắt buộc, tiếp tục đóng tự nguyện để đủ điều kiện hưởng lương hưu); nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (khoảng 12%).
4. Vì sao tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện tại Hà Nội vẫn thấp hơn mức bình quân chung của cả nước?
Dù có chính sách hỗ trợ tài chính cao, tỷ lệ tham gia của Hà Nội mới đạt 1,6% - 1,75% lực lượng lao động (cả nước đạt trên 3%). Nguyên nhân do công tác tuyên truyền còn thiên về gián tiếp, thiếu hình thức vận động trực tiếp đối với lao động tự do; người dân có tâm lý so sánh hiệu quả sinh lời với gửi tiết kiệm ngân hàng; quyền lợi BHXH tự nguyện chỉ gồm 2 chế độ dài hạn (hưu trí, tử tuất), thiếu các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản; và xu hướng chọn hưởng BHXH một lần do thời gian chờ đợi 20 năm để nhận lương hưu quá dài.
5. Tác giả khóa luận đưa ra những đề xuất lập pháp cốt lõi nào?
Tác giả kiến nghị 3 nội dung sửa đổi pháp luật: giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm (hướng tới 10 năm); bổ sung các chế độ ngắn hạn như thai sản và trợ cấp ốm đau vào gói BHXH tự nguyện; và hoàn thiện quy định hạn chế việc nhận BHXH một lần để bảo toàn quyền an sinh dài hạn cho người lao động.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật về BHXH tự nguyện trên địa bàn Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2020 – 6 tháng đầu năm 2023. Công trình làm nổi bật những nỗ lực đột phá của Hà Nội trong việc ban hành chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù vượt trội, đồng thời chỉ rõ những rào cản thể chế khiến diện bao phủ chưa tương xứng với tiềm năng. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành được đề xuất trong khóa luận có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho tiến trình cải cách chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.