Chương 1: Một số van dé lý luận về vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng pháp luật về vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội và thực tiễn tại thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội CHUONG 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE VI PHAM PHAP LUAT VE BAO HIEM XA HOI 1. Khai niệm va đặc điểm của vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội có thê xác định: “Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thé có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [50, tr. BHXH kề từ khi xuất hiện đến nay luôn luôn phát huy tác dung trong những lúc NLD gặp khó khăn, hiểm nghẻo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuôi già.
trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLD va NSDLD cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố đó. Tuy nhiên, BHXH không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm khi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc. mà chỉ giúp họ giữ thăng bằng phan thu nhập bị giảm hay bị mat hoặc giúp ho trang trải phân chi tiêu bị tăng cao đột xuât do gặp các rủi ro nói trên. Vi vậy, dưới góc độ kinh tế: BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm bảo thu nhập nhăm bảo đảm cuộc sống cho NLD khi bị giảm hoặc bị mat kha năng lao động.
Dưới góc độ pháp lý: “BHXH là sự bao đảm thay thế hoặc bù dap một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [41, Khoản 1 Điều 3]. Như vậy, pháp luật BHXH là tổng hợp quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, quy định về các hình thức đảm bảo về vật chất và tinh thần cho NLD hoặc người thân trong gia đình NLD khi họ bị mat hoặc giảm một phần khả năng lao động. VPPL là một hiện tượng lệch chuẩn xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả xấu cho xã hội. Việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ về VPPL có ý nghĩa quan trọng, nó giúp cho việc nhận diện hiện tượng xã hội này, phân biệt chúng với các hiện tượng lệch chuẩn khác, từ đó có các biện pháp có hiệu quả để ngăn ngừa, giảm thiểu hiện tượng này trong đời sống.
Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi con người nhăm xác lập và duy trì trật tự xã hội. Bằng pháp luật, nhà nước và xã hội chính thức thé hiện quan điểm của mình trong việc khuyến khích hay ngăn cắm một hành vi cụ thể nào đó. Do vậy, phải có hành vi thực tế của chủ thé mới có cơ sở dé xác định có VPPL hay không. VPPL không phải là suy nghĩ, hay những sự biến xảy ra năm ngoài ý thức còn người.
VPPL phải là kết quả của ý thức con người, được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thé. Có thể khang định, mọi VPPL đều là hành vi trái pháp luật, nhưng không phải tat cả hành vi trái pháp luật đều bị coi là VPPL. Chỉ những hành vi trai pháp luật do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện trong trường hợp có lỗi mới bị coi là VPPL. Cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong BHXH khó tránh khỏi những vi phạm mà cần có cơ chế pháp luật dé đấu tranh và loại bỏ.
VPPL về BHXH có những dấu hiệu của VPPL nói chung, đồng thời, có những đặc điểm riêng xuất phát từ đặc thù của tô chức và hoạt động trong lĩnh vực BHXH. Như vậy, có thê định nghĩa: VPPL về BHXH là các hành vi xâm hại đến các quan hệ BHXH, được pháp luật bảo vệ, do cá nhân hoặc tô chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiêm soát được hành vi của mình. Các hành vi VPPL về BHXH được nhận diện, đánh giá theo tính chất, làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm và xử lý các hành vi VPPL. Vi phạm BHXH có các đặc điểm sau: Thứ nhất, hành vi nguy hại cho xã hội VPPL trước hết phải là hành vi của con người hoặc hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội,.
(các chủ thé pháp luật) nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội. Khi xác định một VPPL thì hành vi nguy hiểm cho xã hội là không thê thiếu. Nếu không có hành vi nguy hiểm của con người thì sẽ không có VPPL. Hành vi đó có thé được thê hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động của chủ thé pháp luật.
Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ tình cảm hay những đặc tính cá nhân khác của con người cho đù nó có nguy hiểm cho xã hội hay không [50]. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPPL về BHXH thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hại cho quan hệ BHXH qua vi phạm các nghĩa vụ phát sinh do luật định liên quan đến quan hệ đóng, hưởng và quản lý hoạt động BHXH,. Mức độ thiệt hại cho quan hệ BHXH của các hành vi VPPL về BHXH phụ thuộc chủ yếu vào các nhóm yếu té sau: Mức độ thiệt hại đã gây ra hoặc đe doạ gây ra cho quỹ BHXH được tính băng tiền và mức độ thiệt hại được tính bằng số lượng hồ sơ sai phạm, số lượng lao động bị thiệt hai do hành vi vi phạm, khoảng thời gian mà hành vi vi phạm diễn ra,. Thứ hai, trai pháp luật BHXH xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật BHXH xác lập và bảo vệ VPPL không những phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó còn phải trái pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập bảo vệ.
Do vậy, những hành vi trái với các quy định của các tô chức xã hội, trái với tập quán, đạo đức và các tín điều tôn giáo nhưng không trái với các quy định pháp luật thì không bi xem là VPPL. Tính trai pháp luật cũng là một đặc tính không thê thiếu của hành vi VPPL [50]. Hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực BHXH có thê được thê hiện dưới các hành thức: chủ thé thực hiện những hành vi bị pháp luật đóng BHXH, cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số người thuộc diện tham gia BHXH; chủ thé không thực hiện những nghĩa vu ma pháp luật bắt buộc phải thực hiện như: không tham gia BHXH cho NLD theo quy định hoặc chu thé sử dụng quyên hạn vượt quá giới han cho phép,. Thứ ba, có lỗi của chủ thể Dấu hiệu trái pháp luật chỉ là dấu hiệu bên ngoài của hành vi VPPL.
Đề xác định VPPL cần xem xét cả mặt chủ quan của hành vi mà ở đây mặt chủ quan là yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi. Lỗi là yếu tố chủ quan thé hiện thái độ của chủ thé đối với hành vi trái pháp luật. Cũng như mọi hành vi VPPL nói chung, hành vi VPPL về BHXH cũng đòi hỏi phải có dau hiệu lỗi. Lỗi của hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH là sự phủ định chủ quan của các đòi hỏi về nghĩa vụ của pháp luật BHXH được đặt ra cho các bên tham gia quan hệ BHXH, đó có thê là lỗi có ý hoặc lỗi vô ý [50].
Thứ tư, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lực trách nhiệm pháp lý là kha năng phải chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thê do nhà nước quy định. Thông thường nhà nước chỉ quy định những người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi mới phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Đối với những người do mat năng lực nhận thức hoặc khả năng lựa chọn, điều khiến hành vi của mình ở thời điểm khi thực hiện hành vi thi họ cũng không có năng lực trách nhiệm pháp ly theo quy định pháp luật. Theo đó, chủ thê thực hiện các hành vi VPPL trong 10 lĩnh vực BHXH có thé là NLD, NSDLĐ, tô chức BHXH hoặc cá nhân, tổ chức liên quan khác có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện hành vi.
Cấu thành của vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Cấu thành VPPL là những dấu hiệu đặc trưng của một VPPL cụ thê. Trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu phân tích khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của VPPL về BHXH. Thứ nhất, khách thể của VPPL về BHXH là quan hệ xã hội được pháp luật BHXH bao vệ nhưng bị hành vi trai pháp luật xám hại tới Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH được pháp luật bảo vệ và trở thành khách thể, đó là quan hệ giữa các chủ thể: nhà nước, cơ quan BHXH, NSDLD va NLD. Quan hệ này được hình thành, duy trì và phat triển là nhằm mục đích bảo đảm quyên lợi trực tiếp cho NLD, qua đó đảm bao cho sự 6n định của xã hội [50, tr.
Quan hệ xã hội trong lĩnh vực BHXH chi có thé duy tri và phát triển dé thực hiện chức năng xã hội tốt đẹp đó khi các chủ thé thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, tuy nhiên xuất phát từ chính nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong quan hệ BHXH đã dẫn tới nguy cơ các chủ thể không tuân thủ nghĩa vụ ở những mức độ khác nhau. Chính bởi tầm quan trọng của van đề ASXH đối với sự ổn định xã hội và phát triển của nền kinh tế xã hội mà các quan hệ trong lĩnh vực BHXH đã được coi là khách thể bảo vệ của pháp luật. Thứ hai, mặt khách quan của VPPL về BXHH là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của VPPL Yếu tô khách quan của VPPL về BHXH trước hết là hành vi khách quan, hậu quả nguy hiém cho xã hội và môi quan hệ nhân quả giữa hành vi 11 khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, bên cạnh đó còn có thê là thủ đoạn vi phạm, thời gian vi phạm [50, tr.