Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và đưa ra câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa ba khái niệm tác động của phong cách lãnh đạo chuyển dạng, động lực phụng sự công, sự hòa hợp giữa nhân viên với tổ chức. 123doc 7 Sau đó trình bày cở sở lý thuyết để minh chứng mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng và động lực phụng sự công cũng như động lực phụng sự công và sự hòa hợp giữa nhân viên với tổ chức. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, dân số, cách chọn mẫu và các thước đo để thu thập dữ liệu.
Ngoài ra chương 3 cũng nêu lên cách xử lý dữ liệu bao gồm độ tin cậy của thước đo, phân tích nhân tố khám phá EFA và cách xử lý hồi quy tuyến tính, để xác định mối quan hệ giữa các biến. Chương 4: Phân tích kết quả Trình bày kết quả về độ tin cậy của thước đo và kết quả hồi quy tuyến tính để khẳng định xem mối quan hệ các biến có tồn tại hay không. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu nêu hạn chế của nghiên cứu và trình bày đóng góp của nghiên cứu học thuật cũng như mặt thực tiễn trong quản lý công. Ngoài ra chương kết luận cũng đưa ra hướng nghiên cứu kế tiếp từ nghiên cứu này.
123doc 8 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày một số khái niệm quan trọng, lược khảo và khung lý thuyết để xây dựng mô hình tác động đến phong cách lãnh đạo chuyển dạng đến sự hòa hợp giữa nhân viên với tổ chức thông qua động lực phụng sự công. Đồng thời lý giải cách thức xây dựng thang đo và chỉ ra mối quan hệ giữa biến độc lập với biến phụ thuộc.1 Lãnh đạo Các khái niệm lý thuyết của lãnh đạo đã được nghiên cứu từ thời cổ xưa của Plato, Caesar, và Plutarch (Bass, 1981). Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu đã mang lại rất nhiều các công trình và dữ liệu để làm tăng thêm các lĩnh vực nghiên cứu lãnh đạo. Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức – nhân sự.
Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn dắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là tổ chức một nhóm những người để đạt mục tiêu chung. Người lãnh đạo có thể có hoặc không có quyền lực đặc biệt.
Những nhà nghiên cứu về lãnh đạo đã đưa ra những lý thuyết bao gồm những đặc điểm, những sự tác động qua lại do các yếu tố bên ngoài, chức năng, ứng xử, tầm nhìn và giá trị, uy tín, và trí thông minh, cùng với nhiều thứ khác. Người mà mọi người sẽ tuân theo phải có khả năng hướng dẵn hoặc định hướng cho người khác. Mặc dù lãnh đạo là một thuật ngữ thường xuyên được sử dụng trong các cuộc trò chuyện và được mô tả bằng các tính từ khác nhau như hiệu quả, tốt, xấu và nghèo, hầu hết các tác giả đã thất bại trong việc cung cấp một định nghĩa thực tế của lãnh đạo trong các tác phẩm của họ (Leithwood, Jantzi, và Steinbach, 1999). 123doc 9 Lãnh đạo thường xác định phương hướng, mục tiêu dài hạn, lựa chọn chủ trương chiến lược, điều hòa, phối hợp các mối quan hệ và động viên, thuyết phục con người.
Trong những tình huống có nhiều biến động, thường cần có bàn tay lãnh đạo, để xử lý và ứng phó với những rủi ro có tính chiến lược. Khi công việc phức tạp, đụng chạm đến nhiều người tham gia, mục đích không rõ ràng, nhiệm vụ khó khăn, nhân tố ảnh hưởng nhiều thì cần làm rõ mục tiêu, điều tiết các mối quan hệ, động viên thuyết phục nên phải có bàn tay lãnh đạo (Đỗ Quốc Sam, 2007). Lãnh đạo chuyển dạng là tạo ra một tầm nhìn, diễn đạt tầm nhìn đó, thúc đẩy người khác và trao quyền cho người khác. Có khả năng tạo ra một bức tranh về tương lai của tổ chức, họ được khuyến khích tự tạo ra tầm nhìn cho bản thân mình.
Trao quyền xuất hiện khi nhân viên nhận thức rằng họ có thể tham gia vào quá trình đạt mục đích và thực hiện hóa tầm nhìn, nó cũng tạo cho nhân viên lòng tự tin. Do đó các lãnh đạo phải nhận thức được rằng lãnh đạo chuyển dạng có thể rèn luyện và phát triển.2 Phong cách lãnh đạo chuyển dạng (Transformational leadership) Theo (Bass và Riggo, 2006) các phong cách lãnh đạo chuyển dạng đã nhanh chóng trở thành sự lựa chọn cho nghiên cứu và ứng dụng của lý thuyết lãnh đạo. Lãnh đạo chuyển dạng tập trung nhiều hơn vào sự thay đổi, và truyền cảm hứng cho những người theo đến "cam kết một tầm nhìn chung và mục tiêu cho một tổ chức, đơn vị, thách thức họ là những người giải quyết vấn đề sáng tạo, và phát triển năng lực lãnh đạo " (Bass và Riggo, 2006, tr. Từ nền tảng là công bộc của dân, Greenleaf (1977) cho rằng các nhà lãnh đạo là đầy tớ và tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của người dân.
Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng xây dựng sự công bộc của dân và xây dựng lãnh đạo chuyển dạng có sự tương đồng. Công bộc của dân có rất nhiều điểm chung với việc xem xét và kích thích trí tuệ cá nhân của nhà lãnh đạo chuyển dạng (Thùy Vân, 2011). 123doc 10 Theo Leithwood (1994) lãnh đạo chuyển dạng bằng cách sử dụng bốn thành phần của hành vi như sau: xem xét cá nhân; kích thích trí tuệ; động lực truyền cảm hứng và ảnh hưởng lý tưởng hóa. Xây dựng trên công việc của Burns (1978), Bass (1985), Bass và Avolio (1994), và Leithwood (1994) đã giới thiệu một mô hình tám kích thước của lãnh đạo chuyển dạng.
Mô hình này kết hợp các kích thước như sau: Xác định và nhấn mạnh đến một tầm nhìn; thúc đẩy việc chấp nhận các mục tiêu nhóm; cung cấp hỗ trợ cá nhân; trí tuệ kích thích; cung cấp một mô hình thích hợp; mong đợi hiệu suất cao; củng cố văn hóa học và xây dựng mối quan hệ hợp tác. Ông mô tả lãnh đạo chuyển dạng là quá trình trong đó “những người lãnh đạo và những người dưới quyền tác động lẫn nhau làm tăng lên những mức độ của đạo đức và động viên”. Do đó, Burns (1978) đã cho rằng lãnh đạo chuyển dạng như là “gắn bó chặt chẽ với các giá trị bậc cao hơn”. Nhà lãnh đạo chuyển dạng là những người biết phát triển, kích thích trí tuệ và truyền cảm hứng đến cấp dưới đạt được những kết quả mong đợi bằng cách khơi gợi những mức nhu cầu cao hơn của họ, xây dựng lòng tin và đặt lợi ích tổ chức lên trên lợi ích cá nhân (Avolio, Waldman Yammarino, 1991; Bass, 1985).
Kể từ cuối năm 1980 lý thuyết lãnh đạo chuyển dạng đã trở nên phổ biến trong lĩnh vực lãnh đạo đặt trọng tâm vào cảm xúc và giá trị để chứng minh làm thế nào để một nhà lãnh đạo có thể có được khả năng tác động và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Yukl (1989) định nghĩa lãnh đạo chuyển dạng là quá trình gây ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi trong thái độ và giả định của các thành viên tổ chức và xây dựng cam kết cho sứ mạng và mục tiêu của tổ chức. Burns, Bass (1978) và các đồng nghiệp của ông (Bass, 1985 và Bass, 1996) đã tiếp tục nghiên cứu nó. Họ giải thích lãnh đạo chuyển dạng là tác động của nhà lãnh đạo đến nhân viên, lãnh đạo giúp nhân viên cảm thấy tin tưởng, ngưỡng mộ, lòng trung thành và tôn trọng.
Trong đó nhà lãnh đạo khuyến khích nhân viên của mình làm nhiều hơn những gì họ dự kiến ban đầu. Nhà lãnh đạo cũng khuyến khích các nhân viên phải 123doc 11 nhận thức được những kết quả công việc là vì lợi ích chung của tổ chức chứ không phải riêng cá nhân. Ngược lại với Burns, Bass (1985) cho rằng lãnh đạo chuyển dạng là quan điểm phi luân lý và đo lường phong cách lãnh đạo chuyển dạng không bao gồm hai thành phần đạo đức và đạo lý. Ông và các đồng nghiệp đã chỉ ra các nhân tố của lãnh đạo chuyển dạng: Sự ảnh hưởng, truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ, quan tâm cá nhân (Avolio, Bass và Jung, 1999).
Theo Conger (1989) các nhà lãnh đạo chuyển dạng thông qua hành động của nhận thức cơ hội và tạo ra tầm nhìn, kích thích nhân viên thực hiện tầm nhìn, ủng hộ những gì mà nhân viên đã cam kết và đặt niềm tin vào họ. Gardner (1990) lập luận rằng người lãnh đạo phải nhận ra những lý do tại sao họ thất bại và các thủ tục thay đổi có thể được thiết thực hơn. Cơ sở cho những thay đổi này trong hành vi lãnh đạo có thể được cải tạo và xác định lại giá trị, để tổ chức hoạt động có hiệu quả, đạt được cái nhìn mới về tương lai thúc đẩy động lực của con người luôn làm việc sáng tạo và tăng trưởng liên tục thì có thể nói rằng trong khi các nhà lãnh đạo chấp nhận làm việc trong giới hạn của hệ thống hiện có, các nhà lãnh đạo chuyển dạng thích sự thay đổi và sự sáng tạo hơn (Gardner, 1990). Yammarino và Bass (1990) mô tả các nhà lãnh đạo chuyển dạng như một người có tầm nhìn về tương lai, kích thích và thúc đẩy nhân viên và xem xét từng cá nhân trong việc xây dựng sự khác biệt giữa họ với nhau.
Phong cách lãnh đạo chuyển dạng tập trung nhiều hơn vào những gì mà các nhà lãnh đạo đạt được, chứ không phải là đặc điểm cá nhân. Trong một môi trường luôn thay đổi, các nhà lãnh đạo chuyển dạng có thể sẽ hiệu quả hơn bởi vì họ tìm cách làm việc mới, những cơ hội khi đối mặt với rủi ro. Vì vậy, họ có thể phản ứng tích cực với những thay đổi trong môi trường bên ngoài (Lowe, Kroeck và Sivasubramaniam, 1995). 123doc 12 Các nhà lãnh đạo chuyển dạng khuyến khích các ý tưởng đi theo mình và đánh giá những nỗ lực của họ có nhiều sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề cũ bằng cách làm mới (Riggio và Orr, 2004).