Header Page 1 of 107. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *************** NGUYỄN THỊ QUỲNH NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƢỠNG TRẺ EM MỒ CÔI HÀ CẦU – HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ Hà Nội – 2014 Footer Page 1 of 107. Header Page 2 of 107. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *************** NGUYỄN THỊ QUỲNH NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƢỠNG TRẺ EM MỒ CÔI HÀ CẦU – HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI Chuyên ngành: Công tác xã hội Mã số: 60900101 LUẬN VĂN THẠC SỸ Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.
Nguyễn An Lịch Hà Nội - 2014 Footer Page 2 of 107. Header Page 3 of 107. Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu mô hình công tác xã hội tại trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu – Hà Đông – Hà Nội”, cùng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của nhiều thầy cô, bạn bè, người thân, cán bộ, nhân viên tại trung tâm nuôi dưỡng, các em đang sống tại trung tâm nuôi dưỡng và của một số cơ quan, người dân tại địa bàn nghiên cứu. Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: PGS.
TS Nguyễn An Lịch - người đã tận tâm theo dõi, chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn này. Xin chân thành cảm ơn các mẹ cùng với các em tại trung tâm nuôi dưỡng đã không ngần ngại chia sẻ hoàn cảnh, hợp tác với tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công nhân viên của một số cơ quan, người dân.tại Hà Cầu đã tạo điều kiện cho tôi khi thâm nhập khảo sát thực tế, thu thập thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn thầy cô trong khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Hy vọng thầy cô và các bạn sẽ có những đóng góp bổ ích giúp cho luận văn này khắc phục được những hạn chế và hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, 2014 Nguyễn Thị Quỳnh Footer Page 3 of 107. Header Page 4 of 107. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - CTXH : Công tác xã hội - TEMC: Trẻ em mồ côi - TTND: trung tâm nuôi dưỡng Footer Page 4 of 107.
Header Page 5 of 107. DANH MỤC BẢNG BIỂU Biểu 1. Mô hình hệ thống sinh thái ở trẻ em Biểu 1. Tháp nhu cầu theo Abraham Maslow Biểu 2.
Phối hợp giáo dục kỹ năng sống Biểu 2. Số lượng trẻ em khám bệnh định kỳ Footer Page 5 of 107. Header Page 6 of 107. Tính cấp thiết của đề tài Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em, trong bối cảnh đặc trưng về kinh tế - văn hóa – xã hội – con người, Việt Nam đã Trẻ em, thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, nhịp cầu nối các thành viên trong gia đình, đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia.Nhận thức tầm quan trọng đó, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990).
Trên cơ sở ban hành và từng bước hoàn thiện nhiều văn bản pháp lý liên quan như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người… và nhiều chương trình, chính sách, kế hoạch hành động nhằm gắn mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em với các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội quốc gia. Hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em trong đó có nhóm trẻ em mồ côi được hình thành rộng khắp trên cả nước. Hình thức hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội gồm cơ sở bảo trợ xã hội công lập, cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập và các mô hình chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng. Tên gọi của các cơ sở khá đa dạng dựa trên những đặc thù riêng như trung tâm nuôi dưỡng (TTND), cứu trợ, hỗ trợ, nuôi dưỡng, điều trị, điều dưỡng, giáo dục, dạy nghề, làng trẻ em SOS, nhà trẻ, nhà tình thương, nhà nuôi dưỡng, nhà an toàn, mái ấm tình thương, cô nhi viện, cơ sở nuôi dưỡng, khu bảo trợ… Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, mạng lướ icơ sở bảo trợ xã hội ngày càng phát triển và đa dạng.Theo số liệu thống kê, Hà Nội hiện có 20 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có đến 14 cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và 02 trung tâm có đối tượng bảo trợ trọng tâm là trẻ em mồ côi 1 Footer Page 6 of 107.
Header Page 7 of 107. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đối tượng trẻ em cần được bảo vệ. Ngoài ra, các mô hình hoạt động đó có phải là mô hình công tác xã hội đối với trẻ em hay không hay thuần túy là những mô hình nuôi dưỡng nặng tính nhân đạo, từ thiện, cán bộ, nhân viên làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội đó có phải là những nhân viên CTXH chuyên nghiệp hay không là những vấn đề cần phải được làm rõ. Nhằm làm sáng tỏ những băn khoăn trên, tôi đã thực hiện đề tài Nghiên cứu mô hình công tác xã hội đối với trẻ mồ côi tại trung tâm nuôi dưỡng Hà Cầu – Hà Đông – Hà Nội 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu là trẻ em mồ côi (TEMC) và mô hình công tác xã hội (CTXH) trong các cơ sở nuôi dưỡng TEMC, tôi lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, báo cáo, bài viết tiêu biểu. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ em mồ côi “Báo cáo phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm 2010 đã xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác.
Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật. 2 Footer Page 7 of 107. Header Page 8 of 107.
“Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ” (MICS) năm 2010–2011 cho thấy, Việt Nam có 83,7% trẻ em trong độ tuổi từ 0–17 tuổi đang sống với cả cha và mẹ, trong khi có 5,2% không sống với cả cha và mẹ. Khoảng 5,7% trẻ em chỉ sống với mẹ dù cha đẻ vẫn còn sống và 2,4% trẻ em chỉ sống với mẹ khi cha đẻ đã tử vong. Khoảng 1,8% trẻ em chỉ sống với cha dù mẹ đẻ vẫn còn sống và 0,7% chỉ sống với cha khi mẹ đẻ đã tử vong. Có 5,3% không sống với cha đẻ [20, 187].
Kết quả điều tra trên là cơ sở tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu song cần lưu ý rằng các số liệu về thực trạng trẻ em mồ côi của MICS ở trên là theo cách tiếp cận trẻ em mồ côi của MICS. “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương nhận định tại nh, M , c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau. Dịch vụ xã hội cũng có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình, cộng đồng và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng [13].
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” tập trung đến hoàn thiện khung pháp lý đối với vấn đề nhận con nuôi trong nước và nước ngoài. Đánh giá cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần phải khắc phục như: chưa có khung pháp lý về công tác đánh giá một cách có hệ thống và chuyên nghiệp đối với TEMC để quyết định mô hình chăm sóc nào sẽ phù hợp với lợi ích tốt nhất cho các em, đảm bảo rằng trẻ em được nhận nuôi trong một gia 3 Footer Page 8 of 107. Header Page 9 of 107. đình thay thế phù hợp nhất với lợi ích của các em.
Đây là một trong những phát hiện quan trọng và hết sức có ý ngh a đối với nuôi dưỡng TEMC. “Nhận con nuôi từ Việt Nam” là công trình đánh giá độc lập do Hervé Boéchat, Nigel Cantwell và Mia Dambach thuộc Tổ chức Dịch vụ Xã hội Quốc tế (ISS) tiến hành tại Việt Nam năm 2009. Báo cáo đã có những quan tâm đáng kể đến vấn đề nhận con nuôi ở Việt Nam, tình hình phúc lợi trẻ em và bảo vệ trẻ em trên bình diện rộng, đặc biệt là từ góc độ những tác động trực tiếp và gián tiếp đối với nuôi con nuôi quốc tế. Báo cáo đã cung cấp cái nhìn tổng quan việc nhận con nuôi trên thế giới và những phát hiện có tính đặc trưng trong việc nhận con nuôi từ Việt Nam.