Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học pháp luật về quyền trẻ em và thực trạng xâm phạm trong các trường học tại việt nam các giải pháp nhằm hạn chế khắc phục

Khám phá đề tài nghiên cứu khoa học pháp luật về quyền trẻ em và thực trạng xâm phạm trong trường học tại Việt Nam, cùng các giải pháp hạn chế và khắc phục hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Pháp luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2019

93
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ XÂM PHẠM QUYỀN TRẺ EM

1.1. Một số vấn đề cơ bản về quyền trẻ em

1.1.1. Khái niệm trẻ em

1.1.2. Khái niệm quyền trẻ em

1.2. Cơ sở quy định của pháp luật về quyền trẻ em

1.2.1. Cơ sở pháp lý quốc gia

1.2.2. Lịch sử phát triển quyền trẻ em

1.3. Quyền cơ bản của trẻ em theo Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc

1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyền trẻ em và thực hiện quyền trẻ em

1.5. Khái niệm và các hành vi xâm phạm quyền trẻ em

1.5.1. Khái niệm xâm phạm quyền trẻ em

1.5.2. Các hành vi xâm phạm quyền trẻ em

1.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TRẺ EM TRONG TRƯỜNG HỌC TẠI VIỆT NAM

2.1. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về bảo vệ trẻ em trong các trường học

2.2. Các chính sách, pháp luật mang tính khả thi để truyền thông, giáo dục và răn đe các hành vi xâm phạm quyền trẻ em tại các trường học

2.3. Khung pháp luật liên quan đến quyền trẻ em trong trường học

2.3.1. Hiến pháp

2.4. Thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong trường học

2.4.1. Thực trạng về bạo lực học đường

2.4.2. Bất bình đẳng giới trong trường học

2.4.3. Thực trạng xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em trong trường học

2.4.4. Thực trạng xâm phạm quyền được tôn trọng đối với trẻ em tự kỷ trong các trường học

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XỬ LÝ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TRẺ EM, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ KHẮC PHỤC THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TRẺ EM TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC TẠI VIỆT NAM

3.1. Thực trạng xử lý các hành vi xâm phạm quyền trẻ em trong trường học tại Việt Nam

3.2. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sai sót trong việc xử lý các hành vi xâm phạm

3.3. Một số vụ việc điển hình

3.4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm hạn chế thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học tại Việt Nam

3.4.1. Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật dành cho trẻ em trong các trường học

3.4.2. Một số giải pháp nhằm hạn chế khắc phục tình trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học

3.4.3. Tuyên truyền và phổ cập kiến thức, kỹ năng liên quan đến quyền trẻ em trong môi trường học đường

3.4.4. Thành lập các tổ chức có chức năng tham vấn, hỗ trợ trẻ em trong trường học

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền trẻ em và xâm phạm trong trường học tại Việt Nam

Quyền trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng trong xã hội hiện đại. Tại Việt Nam, quyền trẻ em được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong trường học vẫn diễn ra phức tạp. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các khía cạnh liên quan đến quyền trẻ em và các hình thức xâm phạm trong môi trường học đường.

1.1. Khái niệm quyền trẻ em và tầm quan trọng

Quyền trẻ em được hiểu là những quyền cơ bản mà mọi trẻ em đều được hưởng. Điều này bao gồm quyền được bảo vệ, quyền được giáo dục và quyền được phát triển. Việc bảo vệ quyền trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà còn là của toàn xã hội.

1.2. Thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong trường học

Thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong trường học tại Việt Nam đang gia tăng. Các hình thức xâm phạm như bạo lực học đường, xâm hại tình dục và phân biệt đối xử đang diễn ra phổ biến. Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển của trẻ em.

II. Vấn đề và thách thức trong việc bảo vệ quyền trẻ em

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Các thách thức bao gồm sự thiếu nhận thức của cộng đồng, sự thiếu hụt nguồn lực và sự phối hợp kém giữa các cơ quan chức năng.

2.1. Thiếu nhận thức về quyền trẻ em

Nhiều bậc phụ huynh và giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về quyền trẻ em. Điều này dẫn đến việc không bảo vệ được quyền lợi của trẻ em trong môi trường học đường.

2.2. Sự phối hợp kém giữa các cơ quan chức năng

Sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan như giáo dục, công an và chính quyền địa phương làm giảm hiệu quả trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Cần có một hệ thống phối hợp chặt chẽ hơn để giải quyết vấn đề này.

III. Giải pháp bảo vệ quyền trẻ em trong trường học hiệu quả

Để bảo vệ quyền trẻ em trong trường học, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức, cải thiện quy định pháp luật và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan.

3.1. Nâng cao nhận thức cho cộng đồng

Cần tổ chức các chương trình giáo dục và tuyên truyền về quyền trẻ em cho phụ huynh, giáo viên và học sinh. Điều này giúp mọi người hiểu rõ hơn về quyền lợi và trách nhiệm của mình.

3.2. Cải thiện quy định pháp luật

Cần xem xét và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền trẻ em, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc thực thi. Các quy định này cần phải được áp dụng một cách nghiêm túc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu này đã chỉ ra những thực trạng và thách thức trong việc bảo vệ quyền trẻ em tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ thực địa

Các khảo sát và phỏng vấn với giáo viên, phụ huynh và học sinh cho thấy nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến xâm phạm quyền trẻ em. Những thông tin này sẽ giúp xây dựng các giải pháp phù hợp.

4.2. Đề xuất giải pháp cụ thể

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các giải pháp cụ thể như xây dựng chương trình đào tạo cho giáo viên, thiết lập các kênh thông tin để trẻ em có thể báo cáo các hành vi xâm phạm.

V. Kết luận và tương lai của quyền trẻ em tại Việt Nam

Bảo vệ quyền trẻ em là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự chung tay của toàn xã hội để đảm bảo rằng mọi trẻ em đều được sống trong môi trường an toàn và phát triển toàn diện.

5.1. Tương lai của quyền trẻ em

Với sự quan tâm và nỗ lực từ các cơ quan chức năng, hy vọng rằng quyền trẻ em sẽ được bảo vệ tốt hơn trong tương lai. Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá tình hình để có những điều chỉnh kịp thời.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ quyền trẻ em

Cộng đồng cần đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Mỗi cá nhân đều có trách nhiệm trong việc tạo ra một môi trường an toàn cho trẻ em.

21/02/2025
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học pháp luật về quyền trẻ em và thực trạng xâm phạm trong các trường học tại việt nam các giải pháp nhằm hạn chế khắc phục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về quyền trẻ em và xâm phạm quyền trẻ em Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học tại Việt Nam Chương 3: Thực trạng xử lý các hành vi xâm phạm quyền trẻ em, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nhằm hạn chế khắc phục thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học tại Việt Nam. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE QUYEN TRE EM VÀ XÂM PHAM QUYEN TRE EM 1. Một số vấn dé cơ bản về quyền trẻ em. Khai niệm trẻ em Cho đến hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về trẻ em và quyền của trẻ em, song khái niệm này với các cách tiếp cận khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ có những cách định nghĩa khác nhau.

Một trong những vấn đề gây khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng đó là việc xác định rõ ràng nội hàm của một thuật ngữ dé từ đó có được một khái niệm chính xác, biện chứng và logic nhất. Tiếp cận dưới giác độ ngôn ngữ, tré em là người ở thời kì it tuổi đời, dang phát triển mạnh, đang sung sức'. Một số định nghĩa theo tiếng Anh của từ “tré em” còn bao gồm cả những người mới được sinh ra; thai nhi hoặc trẻ sơ sinh’. Hay theo Từ điển Xã hội hoc thì tré em là nhóm nhân khẩu đặc biệt ở trong qua trình xã hội hóa (tiếp nhận những kỹ năng và tri thức dé có thé tham gia hoạt động xã hội độc lập), dang hoc đóng vai trò cũng như tiếp thu những kiến thức, kỹ năng dé tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể.

Hoặc về mặt sinh học thì một đứa trẻ nói chung là bat kỳ ai từ lúc sinh ra cho đến tuổi dậy thì hoặc đến tuổi nhất định". Những người này chưa phát triển day đủ về thé chat, trí tuệ và nhân cách, hay nói cách khác là chưa thé đưa ra được những định hướng phát triển trước những tác động tiêu cực của môi trường xã hội. Tuy nhiên, tiếp cận như vậy mới chi thay được trẻ em dưới các giác độ tâm lý — xã hội, do đó nếu chỉ xây dựng định nghĩa từ những điều trên thì van chưa bao quát được một cách đầy đủ về trẻ em. Việc cần thiết là phải thống nhất những cách tiếp cận trên theo một “chuân mực” về pháp lý.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, thuật ngữ ứré em có thé chi bat kỳ ai đưới độ tudi trưởng thành hoặc một số giới hạn về độ tuổi khác”. Trên thực tế, tùy vào từng điều kiện về địa lý, kinh tế xã hội và từng thời kì lịch sử hay theo quan niệm của từng địa phương mà khái niệm về trẻ em sẽ có sự thay đổi”. Tất cả các nền văn hóa trên thé giới đều có chung một quan điểm răng, trẻ em càng nhỏ, chúng càng dễ bị ton thương về thé chat, tam lý và chúng càng không có khả năng tự bảo vệ mình. Việc quy định về độ tuôi là sự phản ánh của xã hội về sự ' Viện Ngôn ngữ học (2003), “Tir điển Tiếng Việt”, Nxb.

Da Ning, tr. ?, Oxtord University Press (1971), “Oxford English Dictionnay (Vol 1)”, p. 3 Lưu Thị Bich Ngoc (2016), “Bảo vệ quyên trẻ em nhiễm HIV theo pháp luật Việt Nam”, Luan văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. * “Child”, tại https://en.com/definition/child, ngày truy cập: 05/01/2019.

° “Child”, tại https://en.org/wiki/Child#cite_note-8, ngày truy cập: 05/01/2019. ° Lưu Thị Bích Ngọc (2016), tlđd, tr. 8 phat triển, năng lực va trách nhiệm của trẻ va điều này sé là khác nhau theo mỗi quốc gia’. Việc xác định trẻ em trên cơ sở là một độ tuổi nhất định có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất một nhóm đối tượng, thành phần trong xã hội là trẻ em, từ đó có thể đảm bảo cho những người này quyền và lợi ích theo pháp luật và đảm bảo cho sự phát triển trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội, phù hop với nhận thức, tâm — sinh lý của nhóm người nay.

Chang hạn, tại Singapore, tré em được định nghĩa là một người dưới 14 tuổi” theo Luật Trẻ em và Thanh thiếu niên năm 1993 (cải tổ năm 2001)’. Hoặc theo Luật của Vương Quốc Anh thì tré em là một người dưới 18 tuổi”. Hay tại Pháp, trẻ em cũng là người chưa đủ 18 tuổi! Tại Việt Nam, theo Luật Trẻ em năm 2016 thì ¢ré em là người đưới 16 tuổi. Điều này là phù hợp theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1989'“.

Nhưng khi đi sâu vào nghiên cứu thì có thé thay việc định nghĩa theo Luật trẻ em năm 2016 của Việt Nam chưa thực sự hợp lý và thống nhất với toàn bộ hệ thống pháp luật. Ngoài ra, hiện nay cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các thuật ngữ “tre em” theo Luật trẻ em và “nguoi chưa thành niên ” theo các văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Trình bày khái lược về vấn dé này, có thé thay rằng, ngay từ rất sớm, pháp luật dân sự nước ta đã có định nghĩa về người chưa thành niên. Theo đó, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Ỷ.

Định nghĩa “tré em” được xây dựng muộn hon và chịu ảnh hưởng một cách đáng kê khi Việt Nam gia nhập CRC. Và kể từ khi chính thức trở thành thành viên của CRC, Việt Nam đã sửa đổi pháp luật và đưa ra định nghĩa về trẻ em. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 được ban hành, thay thế Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. đưa ra định nghĩa: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sdu tuổi ”.

Quy định này dù chưa đáp ứng hoàn toàn mục tiêu của Công ước nhưng tiến đến gần hơn yêu cầu của Công ước, đã mở rộng phạm vi những người được coi là trẻ em, tăng thêm một tuổi so với Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. Định nghĩa trẻ em là những người dưới 7Ro Bajpai (2018), “Child Rights in India: Law, Policy, and Practice”, Oxford University Press, p. * Phan này được trích theo Điều 2 Luật Trẻ em va Thanh thiếu niên Siieapote. Nguyên văn như sau: “Child” means a person whois below the age of 14 years.

” Chi tiết luật này tại: https://sso.sg/Act/CYPA1993, ngày truy cập: 05/01/2019. '° Theo khoản 6 Điều 7 Luật Trẻ em và Thanh thiếu niên năm 2008 của Anh. Nguyên van: “Children” means persons under the age of 18. Chi tiết luật này tại: https://www.uk/ukpga/2008/23/section/7, ngày truy cập: 05/01/2019.

'Ì “Children’s Rights: France”, tại https://www.gov/law/help/child-rights/france.php, ngày truy cập: 16/01/2019. 0 Ngay tai Điều 1 Công ước này nêu rõ: Trẻ em là bat kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn. Như vậy, trừ khi pháp luật quốc gia quy định độ tuổi thành niên sớm hơn, những người dưới 18 tuổi đều là đối tượng được bảo vệ bởi Công ước này. '3 Điều 20 BLDS năm 1995; Điều 18 BLDS năm 2005; Điều 21 BLDS năm 2015.

lá Ngay tại Điều | Pháp lệnh quy định: “7zé em (rong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”. 'S Pham Thị Thanh Nga và Nguyễn Xuân Tĩnh, “Trẻ em ” và “người chưa thành niên ” trong pháp luật Việt Nam: Nhìn từ nghĩa vụ thực hiện công ước của Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 15(343)T8/2017, tr. 9 16 tuổi tiếp tục được duy trì trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004'° va Luat Tré em nam 2016. Nhu vay, du qua nhiều lần thay đôi, có những điểm mới hơn so với các văn bản trước nhưng đến văn bản có hiệu lực mới nhất là Luật trẻ em năm 2016 thì đối tượng là trẻ em và được bảo vệ bởi Luật vẫn chỉ bao gồm những người dudi 16 tuổi'”.

Nếu đặt quy định này trong tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thì chưa hợp lý và nhất quán. Trong bối cảnh pháp luật quốc tế thì định nghĩa như vậy là phù hợp theo CRC. Trong bối cảnh pháp luật quốc gia thì có sự không thống nhất giữa các ngành luật và không bảo vệ chặt chẽ các chủ thể được coi là “trẻ em” hoặc “chưa thành niên”. Minh chứng cho điều này có thé ví dụ như sau: Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 nêu ra định nghĩa: “người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên ”'”.

Ö đây xuất hiện sự không rõ ràng giữa địa vị pháp lý của những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Họ không phải là trẻ em nhưng cũng không phải là người thành niên”. Người chưa thành niên gồm có trẻ em (người dưới 16 tuổi) và nhóm người từ 16 đến dưới 18 tuổi. Điều nay có nghĩa là: Tat cả trẻ em đều là người chưa thành niên nhưng không phải tat cả người chưa thành niên đều là trẻ em”.

Tuy nhiên, việc sử dụng hai thuật ngữ này trong văn bản pháp luật của Việt Nam đang có sự khác biệt. “Trẻ em” thường được sử dụng dé nhân mạnh tính dé ton thương và nhân mạnh tới các quyền của nhóm đối tượng này; trong khi đó, “người chưa thành niên” không chỉ có quyền mà còn có cả nghĩa vụ và trách nhiệm với người khác”'. Tóm lại, khi quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuôi thì chưa đáp ứng được yêu cầu của CRC ở hai tiêu chí là độ tudi được khuyến nghị là 18 va địa vị pháp lý (nếu không phải trẻ em thì là người trưởng thành) “^ Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và xây dựng nhưng nhìn chung, có thê tổng thuật những đặc điểm nỗi bật của trẻ em như sau: Thứ nhất, về độ tuôi, trẻ em là nhóm người có độ tuổi còn nhỏ và việc xác định tuổi tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau mà độ tuổi theo luật định khác nhau. Trong khuôn khô báo cáo này, nhóm tác giả cho răng nên quy định độ tuôi của trẻ em là dưới 18 '* Phạm Thị Thanh Nga và Nguyễn Xuân Tĩnh, “7rẻ em” và “người chưa thành niên ” trong pháp luật Việt Nam: Nhìn từ nghĩa vụ thực hiện công ước của Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 15(343)T8/2017, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học pháp luật về quyền trẻ em và giải pháp hạn chế xâm phạm trong trường học tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường giáo dục. Nghiên cứu này phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền trẻ em, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để hạn chế tình trạng xâm phạm quyền trẻ em tại các trường học. Tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng mà còn đưa ra các khuyến nghị thiết thực, giúp các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và phụ huynh nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan đến trẻ em, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học giải quyết vấn đề con chung khi cha mẹ ly hôn và thực tiễn áp dụng. Tài liệu này đi sâu vào các khía cạnh pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn, mang đến góc nhìn đa chiều và thực tiễn áp dụng pháp luật.