Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về quyền trẻ em và xâm phạm quyền trẻ em Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học tại Việt Nam Chương 3: Thực trạng xử lý các hành vi xâm phạm quyền trẻ em, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nhằm hạn chế khắc phục thực trạng xâm phạm quyền trẻ em trong các trường học tại Việt Nam. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE QUYEN TRE EM VÀ XÂM PHAM QUYEN TRE EM 1. Một số vấn dé cơ bản về quyền trẻ em. Khai niệm trẻ em Cho đến hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về trẻ em và quyền của trẻ em, song khái niệm này với các cách tiếp cận khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ có những cách định nghĩa khác nhau.
Một trong những vấn đề gây khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng đó là việc xác định rõ ràng nội hàm của một thuật ngữ dé từ đó có được một khái niệm chính xác, biện chứng và logic nhất. Tiếp cận dưới giác độ ngôn ngữ, tré em là người ở thời kì it tuổi đời, dang phát triển mạnh, đang sung sức'. Một số định nghĩa theo tiếng Anh của từ “tré em” còn bao gồm cả những người mới được sinh ra; thai nhi hoặc trẻ sơ sinh’. Hay theo Từ điển Xã hội hoc thì tré em là nhóm nhân khẩu đặc biệt ở trong qua trình xã hội hóa (tiếp nhận những kỹ năng và tri thức dé có thé tham gia hoạt động xã hội độc lập), dang hoc đóng vai trò cũng như tiếp thu những kiến thức, kỹ năng dé tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể.
Hoặc về mặt sinh học thì một đứa trẻ nói chung là bat kỳ ai từ lúc sinh ra cho đến tuổi dậy thì hoặc đến tuổi nhất định". Những người này chưa phát triển day đủ về thé chat, trí tuệ và nhân cách, hay nói cách khác là chưa thé đưa ra được những định hướng phát triển trước những tác động tiêu cực của môi trường xã hội. Tuy nhiên, tiếp cận như vậy mới chi thay được trẻ em dưới các giác độ tâm lý — xã hội, do đó nếu chỉ xây dựng định nghĩa từ những điều trên thì van chưa bao quát được một cách đầy đủ về trẻ em. Việc cần thiết là phải thống nhất những cách tiếp cận trên theo một “chuân mực” về pháp lý.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, thuật ngữ ứré em có thé chi bat kỳ ai đưới độ tudi trưởng thành hoặc một số giới hạn về độ tuổi khác”. Trên thực tế, tùy vào từng điều kiện về địa lý, kinh tế xã hội và từng thời kì lịch sử hay theo quan niệm của từng địa phương mà khái niệm về trẻ em sẽ có sự thay đổi”. Tất cả các nền văn hóa trên thé giới đều có chung một quan điểm răng, trẻ em càng nhỏ, chúng càng dễ bị ton thương về thé chat, tam lý và chúng càng không có khả năng tự bảo vệ mình. Việc quy định về độ tuôi là sự phản ánh của xã hội về sự ' Viện Ngôn ngữ học (2003), “Tir điển Tiếng Việt”, Nxb.
Da Ning, tr. ?, Oxtord University Press (1971), “Oxford English Dictionnay (Vol 1)”, p. 3 Lưu Thị Bich Ngoc (2016), “Bảo vệ quyên trẻ em nhiễm HIV theo pháp luật Việt Nam”, Luan văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. * “Child”, tại https://en.com/definition/child, ngày truy cập: 05/01/2019.
° “Child”, tại https://en.org/wiki/Child#cite_note-8, ngày truy cập: 05/01/2019. ° Lưu Thị Bích Ngọc (2016), tlđd, tr. 8 phat triển, năng lực va trách nhiệm của trẻ va điều này sé là khác nhau theo mỗi quốc gia’. Việc xác định trẻ em trên cơ sở là một độ tuổi nhất định có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất một nhóm đối tượng, thành phần trong xã hội là trẻ em, từ đó có thể đảm bảo cho những người này quyền và lợi ích theo pháp luật và đảm bảo cho sự phát triển trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội, phù hop với nhận thức, tâm — sinh lý của nhóm người nay.
Chang hạn, tại Singapore, tré em được định nghĩa là một người dưới 14 tuổi” theo Luật Trẻ em và Thanh thiếu niên năm 1993 (cải tổ năm 2001)’. Hoặc theo Luật của Vương Quốc Anh thì tré em là một người dưới 18 tuổi”. Hay tại Pháp, trẻ em cũng là người chưa đủ 18 tuổi! Tại Việt Nam, theo Luật Trẻ em năm 2016 thì ¢ré em là người đưới 16 tuổi. Điều này là phù hợp theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1989'“.
Nhưng khi đi sâu vào nghiên cứu thì có thé thay việc định nghĩa theo Luật trẻ em năm 2016 của Việt Nam chưa thực sự hợp lý và thống nhất với toàn bộ hệ thống pháp luật. Ngoài ra, hiện nay cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các thuật ngữ “tre em” theo Luật trẻ em và “nguoi chưa thành niên ” theo các văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Trình bày khái lược về vấn dé này, có thé thay rằng, ngay từ rất sớm, pháp luật dân sự nước ta đã có định nghĩa về người chưa thành niên. Theo đó, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Ỷ.
Định nghĩa “tré em” được xây dựng muộn hon và chịu ảnh hưởng một cách đáng kê khi Việt Nam gia nhập CRC. Và kể từ khi chính thức trở thành thành viên của CRC, Việt Nam đã sửa đổi pháp luật và đưa ra định nghĩa về trẻ em. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 được ban hành, thay thế Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. đưa ra định nghĩa: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sdu tuổi ”.
Quy định này dù chưa đáp ứng hoàn toàn mục tiêu của Công ước nhưng tiến đến gần hơn yêu cầu của Công ước, đã mở rộng phạm vi những người được coi là trẻ em, tăng thêm một tuổi so với Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979. Định nghĩa trẻ em là những người dưới 7Ro Bajpai (2018), “Child Rights in India: Law, Policy, and Practice”, Oxford University Press, p. * Phan này được trích theo Điều 2 Luật Trẻ em va Thanh thiếu niên Siieapote. Nguyên văn như sau: “Child” means a person whois below the age of 14 years.
” Chi tiết luật này tại: https://sso.sg/Act/CYPA1993, ngày truy cập: 05/01/2019. '° Theo khoản 6 Điều 7 Luật Trẻ em và Thanh thiếu niên năm 2008 của Anh. Nguyên van: “Children” means persons under the age of 18. Chi tiết luật này tại: https://www.uk/ukpga/2008/23/section/7, ngày truy cập: 05/01/2019.
'Ì “Children’s Rights: France”, tại https://www.gov/law/help/child-rights/france.php, ngày truy cập: 16/01/2019. 0 Ngay tai Điều 1 Công ước này nêu rõ: Trẻ em là bat kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn. Như vậy, trừ khi pháp luật quốc gia quy định độ tuổi thành niên sớm hơn, những người dưới 18 tuổi đều là đối tượng được bảo vệ bởi Công ước này. '3 Điều 20 BLDS năm 1995; Điều 18 BLDS năm 2005; Điều 21 BLDS năm 2015.
lá Ngay tại Điều | Pháp lệnh quy định: “7zé em (rong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”. 'S Pham Thị Thanh Nga và Nguyễn Xuân Tĩnh, “Trẻ em ” và “người chưa thành niên ” trong pháp luật Việt Nam: Nhìn từ nghĩa vụ thực hiện công ước của Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 15(343)T8/2017, tr. 9 16 tuổi tiếp tục được duy trì trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004'° va Luat Tré em nam 2016. Nhu vay, du qua nhiều lần thay đôi, có những điểm mới hơn so với các văn bản trước nhưng đến văn bản có hiệu lực mới nhất là Luật trẻ em năm 2016 thì đối tượng là trẻ em và được bảo vệ bởi Luật vẫn chỉ bao gồm những người dudi 16 tuổi'”.
Nếu đặt quy định này trong tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thì chưa hợp lý và nhất quán. Trong bối cảnh pháp luật quốc tế thì định nghĩa như vậy là phù hợp theo CRC. Trong bối cảnh pháp luật quốc gia thì có sự không thống nhất giữa các ngành luật và không bảo vệ chặt chẽ các chủ thể được coi là “trẻ em” hoặc “chưa thành niên”. Minh chứng cho điều này có thé ví dụ như sau: Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 nêu ra định nghĩa: “người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên ”'”.
Ö đây xuất hiện sự không rõ ràng giữa địa vị pháp lý của những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Họ không phải là trẻ em nhưng cũng không phải là người thành niên”. Người chưa thành niên gồm có trẻ em (người dưới 16 tuổi) và nhóm người từ 16 đến dưới 18 tuổi. Điều nay có nghĩa là: Tat cả trẻ em đều là người chưa thành niên nhưng không phải tat cả người chưa thành niên đều là trẻ em”.
Tuy nhiên, việc sử dụng hai thuật ngữ này trong văn bản pháp luật của Việt Nam đang có sự khác biệt. “Trẻ em” thường được sử dụng dé nhân mạnh tính dé ton thương và nhân mạnh tới các quyền của nhóm đối tượng này; trong khi đó, “người chưa thành niên” không chỉ có quyền mà còn có cả nghĩa vụ và trách nhiệm với người khác”'. Tóm lại, khi quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuôi thì chưa đáp ứng được yêu cầu của CRC ở hai tiêu chí là độ tudi được khuyến nghị là 18 va địa vị pháp lý (nếu không phải trẻ em thì là người trưởng thành) “^ Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và xây dựng nhưng nhìn chung, có thê tổng thuật những đặc điểm nỗi bật của trẻ em như sau: Thứ nhất, về độ tuôi, trẻ em là nhóm người có độ tuổi còn nhỏ và việc xác định tuổi tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau mà độ tuổi theo luật định khác nhau. Trong khuôn khô báo cáo này, nhóm tác giả cho răng nên quy định độ tuôi của trẻ em là dưới 18 '* Phạm Thị Thanh Nga và Nguyễn Xuân Tĩnh, “7rẻ em” và “người chưa thành niên ” trong pháp luật Việt Nam: Nhìn từ nghĩa vụ thực hiện công ước của Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 15(343)T8/2017, tr.