CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÍ LUẬN VE BẢO VE NGƯỜI TIEU DUNG VA PHÁP LUẬT BAO VE QUYEN LỢI NGƯỜI TIEU DUNG 1. TONG QUAN VE BAO VE NGUOI TIEU DUNG 1. Khái niệm người tiêu dùng Người tiêu dùng (consumer) là khái niệm rộng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế.
Người tiêu dùng là phạm trù chỉ øững chủ thể tiêu thu của cải được tạo ra bởi nên kinh tế. Người tiêu dùng là người mua nhưng khác với mua nguyên liệu (materials) hoặc mua hàng dé bán lại, họ là những người sử dụng hàng hoá, dịch vụ cuối cùng (consumer goods/services hoặc final goods/services) và lam chúng tiêu hao hoặc biến mat qua việc sử dụng đó. Trong mọi nền sản xuất xã hội, xét cho cùng, đối tượng được hướng tới chính là người tiêu dùng. Những động thái chi tiêu của ho (consumer behaviors) đối với những ngành, nhóm hàng nhất định là tư liệu để rút ra định hướng trong đầu tư, sản xuất và tiếp thị cho các doanh nghiệp.
Người tiêu dùng, như Mahatma Gandhi đã viết: "họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phụ thuộc vào họ. Ho không làm gián đoạn quy trình sản xuất mà là mục dich của nó".) A ` or ` 2 x N TA r 2 rự;(Ì Kinh tế học cũng lấy việc tiêu thụ sản phẩm cuối cùng hay hàng tiêu dùng dé xác định tổng sản phẩm nội địa, tức tong sản phẩm quốc nội hay GDP (Gross Domestic Product). Đó là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thé quốc gia trong thời kì nhất định.” Một cách sơ lược như vậy cũng đã cho phép khang định người tiêu dùng là bộ phận cực kì quan trọng của bất kì nền kinh tế nào. Dưới giác độ pháp lí: Ở hầu hết các quốc gia trên thé giới, khái niệm người tiêu dùng chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thé pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng được ra đời.
Trước đó, người tiêu dùng chỉ là khái niệm của kinh tế học. Họ cũng vẫn tham gia các quan hệ dân sự nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng nhưng chỉ được coi là một bên trong các hợp đồng dân sự. Vì vậy, dưới góc độ pháp lí, người tiêu dùng là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Hàng hoá, dịch vụ đến được tay người tiêu dùng luôn được thực hiện thông qua các hợp đồng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp: Chúng có thé được tô chức cấp phát sau khi tổ chức đó đã kí hop đồng với nhà cung cấp (vi du: doanh nghiệp mua nước uống để phục vụ cho công nhân của họ); Chúng có thể được tặng cho (1).
Anil Dutt Misra: “Jnsipiring Thoughts of Mahatma Gandhi", Concept Publishing Company, 2008, tr. Trong đó: C là tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình; G là tiêu dùng của chính phủ; I là tổng dau tư, I = De + In, De là khấu hao, In là đầu tư ròng; NX là cán cân thương mại, NX = X — M, X (export) là xuất khâu, M (import) là nhập khẩu. bởi người khác hoặc bởi chính nhà cung cấp; Chúng cũng có thê được mua trực tiếp từ nhà cung cấp. Trong tất cả những trường hợp này, người tiêu dùng đã được bảo vệ với tư cách là một bên trong quan hệ hợp đồng dân sự hoặc lao động.
Tuy nhiên, nếu dua vào luật dân sự truyền thống, khái niệm "người tiêu dùng" sẽ mãi mãi chỉ là khái niệm kinh tế, chứ không phải khái niệm pháp lí. Xác định đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lí luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi người tiêu dùng được hưởng sự ưu tiên hơn so với những chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch cũng như trong giải quyết tranh chấp. Chính bởi sự ưu tiên này, nhằm bảo đảm hiệu quả điều chỉnh và tính công bằng trong áp dụng các ưu đãi, pháp luật không thể sử dụng nguyên vẹn khái niệm người tiêu dùng trong kinh tế học hoặc với tính cách là người mua hàng hoá, dịch vụ trong luật dân sự mà cần được phân biệt. Người tiêu dùng không thể là đối tượng chung chung mà luôn là các chủ thể cụ thể.
Thông thường, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng các nước giới hạn người tiêu dùng là các cá nhân mua hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Nhìn chung, để xác định chủ thé là người tiêu dùng, pháp luật các nước thường dựa vào các điều kiện sau: Thứ nhất, đối tượng của giao dich là những hàng hoá, dịch vụ được phép lưu thông và đáp ứng được các nhu cau sinh hoạt vật chất và tỉnh thân của cá nhân con người. Đây là điều kiện, rất khó xác định bởi nhu cầu sinh hoạt của con người trong điều kiện hiện nay là rất đa dạng. Những hàng 9 hoá, dịch vụ thiết yếu hàng ngày của con người như đồ ăn, thức uống, thuốc chữa bệnh, đồ chơi, đồ dùng học tập được coi là đối tượng đương nhiên của giao dịch với người tiêu dùng.
Khi đó, các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến vệ sinh, an toàn đối với sức khoẻ con người được áp dụng, ké cả đối với trường hợp hàng hoá chưa được bán cho người tiêu dùng. Trong những trường hợp khác, cần phải kết hợp với mục đích của việc mua hang hoá, dịch vụ đó dùng vào việc gi. Thứ hai, người tiêu dùng là cả nhân. Xác định người tiêu dùng là các cá nhân xuất phát từ chính mục đích cho sự ra đời của lĩnh vực pháp luật này là hỗ trợ những người tiêu dùng yếu thé trong quan hệ với nhà cung cap hàng hoá, dịch vụ.
Nhìn chung, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ có hiểu biết tốt hơn về hàng hoá, dịch vụ của mình so với người tiêu dùng. Khi tìm hiểu về sản phẩm, khả năng tiếp cận và tiếp nhận thông tin, tham vấn của cá nhân đơn lẻ là hạn chế hơn nhiều so với tô chức. Nói cách khác, trong việc tự bảo vệ quyền của mình, năng lực của tổ chức thường tốt hơn cá nhân. Điều 2 Chỉ thị 93/13/EEC năm 1993 về các điều khoản giao dịch không công bằng của Hội đồng châu Âu quy định: “Người tiêu dùng được xác định là con người tự nhiên, xác lập các hợp đông theo chỉ thị này, cho các mục đích không phải thương mại, nghề nghiệp ”.
Quy định này được tiếp tục khang định lại trong luật bảo vệ người tiêu dùng của các thành viên EU và cũng được nhiều quốc gia ngoài EU sử dụng. Ngoài ra, việc "tiêu dùng" hay "sinh hoạt" của tổ chức cũng là điều khó xác định; đồng thời sẽ khó có thé coi việc "tiêu dùng" hay "sinh hoạt" của tô chức là không vì hoạt động chức năng hoặc 10 nghề nghiệp của tổ chức đó. Vi du: co quan mua nước uống không phải dé “cơ quan uống” mà là dé những con người cụ thể làm việc hoặc giao dịch tại đó uống. Thông qua việc phục vụ nước uống cho người lao động và khách giao dịch, chất lượng hoạt động của cơ quan đó được cải thiện.
Chính vì vậy, nhìn chung, đa số pháp luật bảo vệ người tiêu dùng các nước không coi tổ chức là người tiêu ding.” Cac giao dịch ma họ tham gia sẽ được bảo vệ theo pháp luật hop đồng, mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng. Trong ví dụ nêu trên, người uống nước, nếu bị thiệt hại có thể kiện nhà cung cấp với tư cách người tiêu dùng nhưng cơ quan, tô chức đã mua nước chỉ có thé kiện nhà cung cấp với tư cách người (1).Một số bản dịch không chính thức ở Việt Nam cho rằng luật của Hàn quốc, Đài Loan, Thái Lan quy định người tiêu dùng bao gồm cả tổ chức là suy diễn không chính xác. Điều 2 Luật bảo vệ người tiêu dùng Dai Loan năm 1994 quy định: “The term "consumers" means those who enter into transactions, use goods or accept services for the purpose of consumption”, Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Thai Lan năm 1979 quy định: “Consumer” mean a person who buy or obtains services from a business man or a person who has been offered or invited by a businessman to purchase goods or obtain services and includes a person who duly uses good or a person who duly obtains services from a businessman even he/she is not a person who pays the remuneration”. Những quy định nay chi nêu cách xác định khái niệm người tiêu dùng theo mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ hoặc hình thức tiếp nhận (mua, được cho, mời) hàng hoá dịch vụ chứ không ngụ ý hoặc phản ảnh rõ ràng người tiêu dùng có thể là tổ chức.
Điều 2 Luật khung về bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc năm 2006 quy định: “Consumer” means those who use (including utilization; hereinafter the same shall apply) goods and services provided by enterprisers for the purpose of daily use or production, prescribed by the Presidential Decree”. Quy định nay của Han Quốc tuy rất độc đáo ở chỗ nó cho xác định người tiêu ding có mục dich sản xuất (production) ngoài mục đích sử dụng hàng ngày (daily use) nhưng phải được nêu rõ trong các nghị định của tổng thống Hàn Quốc (Presidential Decree). Tham chiếu các văn bản của tổng thống Hàn Quốc về thực thi Luật khung về bảo vệ người tiêu dùng tại website chính thức của Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc (KCA) http://www. kr/jsp/ eng/info_02.jsp, chúng tôi khong thay bang chứng xác thực liên quan đến quy định về người tiêu dùng Hàn Quốc có thé là tổ chức.
11 mua trong quan hệ hợp đồng thông thường hoặc có thể trở thành đại diện của người tiêu dùng mà thôi. Một số trường hợp cá biệt coi các doanh nghiệp rất nhỏ cũng là người tiêu dùng. Chăng hạn, theo Luật thực hành thương mại Úc 1974 (Trade Practices Act 1974), các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ có giá trị nhỏ hơn 40.000 đô la Úc thì người mua cũng được đối xử như là người tiêu dùng trong chế độ bảo hành, kê cả khi người mua là tổ chức. Trong trường hợp giá trị giao dịch lớn hơn 40.000 đô la Úc, để được coi là “người tiêu dùng”, người mua phải chứng minh mục đích sử dụng là tiêu dùng của mình.“ Tuy vậy, chúng ta nên nhìn nhận đây là sự đối xử tương đương “như là người tiêu dùng” của pháp luật đối với trường hợp cá biệt này.