mở đầu cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hành chính tai toà án. - Thứ hai, thụ lí vụ án hành chính là hành vi tố tụng hành chính do toà án có thẩm quyền thực hiện. Tuy thuộc vào phạm vi các vu án hành chính thuộc thâm quyền xét xử của hệ thống toà án nói chung và việc phân cấp thâm quyền này cho từng toà án cụ thê theo quy định của pháp luật mà mỗi toà án không có thâm quyên giải quyết tất cả các vụ án hành chính. Do đó, khi tiếp nhận đơn khởi kiện vụ án hành chính toà án cần phải xác định sự phù hợp của vụ việc 238 được khởi kiện với thâm quyền của mình để quyết định việc thụ lí hay từ chối thụ lí vụ án hành chính.
Việc thụ lí những vụ án hành chính sai thâm quyền đều là hành vi trái pháp luật và việc giải quyết các vụ án này cần phải được đình chỉ ngay. - Ther ba, các căn cứ và hình thức thụ lí vụ án hành chính được pháp luật tố tụng hành chính quy định. Quyên thụ lí vụ án hành chính thuộc về toà án nhưng đó không phải là đặc quyền tuỳ tiện của toà án. Toà án có quyền từ chối thụ lí vụ án néu không đủ các căn cứ thụ lí.
Pháp luật tố tụng hành chính quy định các căn cứ thụ lí vụ án hành chính phù hợp với các điều kiện, yêu cầu về nội dung và hình thức thê hiện của việc khởi kiện vụ án hành chính. T uy vậy, điều đó không có nghĩa là toà án luôn phải thụ lí vụ án hành chính nếu việc khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện theo đúng các điều kiện, nội dung và hình thức thé hiện do pháp luật quy định. Việc thụ lí vụ án hành chính còn phải được thực hiện trên cơ sở một số căn cứ khác mang tính nghiệp vụ của toà án như: xác định thẩm quyền thụ lí trong trường hợp có tranh chấp về thâm quyền giải quyết vụ việc; kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí sơ thâm của cá nhân, tô chức khởi kiện vụ án hành chính v. Bên cạnh các căn cứ thụ lí vụ án hành chính, việc pháp luật tố tụng hành chính quy định về hình thức thụ lí vụ án hành chính là cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của công tác thụ lí vụ án hành chính và đề cao trách nhiệm của toà án trong việc tiếp nhận, xem xét yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính và thụ 239 lí, giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật vụ án hành chính.
Từ những nhận định nêu trên, chúng ta có thé hiểu thụ lí vụ án hành chính là hành vi tố tụng do toà án có thâm quyền thực hiện theo những căn cứ, hình thức được pháp luật tố tụng hành chính quy định nhăm chính thức chấp nhận giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, tổ chức. Căn cứ thụ lí vụ án hành chính Luật tố tụng hành chính không trực tiếp quy định các căn cứ thụ lí vụ án hành chính mà gián tiếp quy định các căn cứ này thông qua quy định về các trường hợp chuyên đơn khởi kiện và trả lại đơn khởi kiện.) Theo các quy định này thì toà án tiễn hành thu lí vụ án hành chính khi vụ việc được khởi kiện không thuộc một trong các trường hợp toà án phải chuyên đơn khởi kiện cho toà án có thấm quyền hoặc phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 107 Luật tố tụng hành chính thì toa án phải “chuyển đơn khởi kiện cho toà án có thẩm quyên và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyên giải quyết của toà án khác”. Tuy Luật này quy định người khởi kiện có trách nhiệm gửi đơn khởi kiện đến toà án có thâm quyền"? song có thé do kiến thức pháp luật của cá nhân trực tiếp thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính có hạn chế hoặc việc xác định toà án có thâm quyên thụ lí don (1).Xem: Khoản 3 Điều 107 Luật tố tụng hành chính.Xem: Khoản 1 Điêu 106 Luật tô tụng hành chính.
240 khởi kiện còn phụ thuộc vào những yêu tố khách quan (kết quả giải quyết tranh chấp về thâm quyền giải quyết vụ việc; toà án cấp tỉnh lấy những vụ việc thuộc thâm quyền của toà án cấp huyện lên dé giải quyết v.) mà trong nhiều trường hợp toa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện không có thâm quyên giải quyết vụ việc được khởi kiện. Do đó, dé có thể tiến hành thụ lí nhanh chóng, đúng pháp luật đơn khởi kiện vụ án hành chính của ca nhân, tô chức trong trường hợp vụ việc được khởi kiện thuộc thâm quyền của toà án khác thì toà án đã tiếp nhận đơn khởi kiện không được trả lại đơn khởi kiện hay tiến hành thụ lí vụ án hành chính mà phải chuyền đơn khởi kiện đến toà án có thâm quyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính thì toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây: - Thứ nhát, người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Xét về phương diện lí luận thì khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính liệt kê quá nhiều trường hợp toà án trả lại đơn khởi kiện nên các trường hợp này đã có sự chồng chéo với nhau, gây khó khăn cho toà án khi lựa chon căn cứ pháp lí dé trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính.
Do đó, để tránh sự nhằm lẫn, thiếu nhất quán trong việc viện dẫn căn cứ pháp lí cho việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính do người khởi kiện không có quyền khởi kiện thì trường hợp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật này cần được xác định là trường hợp người khởi kiện hoặc người mà họ đại điện không có quyền, 241 lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi quyết định, hành vi bị khởi kiện. Nói cách khác, việc khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện trong trường hợp này đã vi phạm điều kiện khởi kiện thứ nhất được nêu ra ở tiểu mục 2 thuộc mục II của Chương này. - Thứ hai, người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật tố tụng hành chính thi chủ thé trực tiếp thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính (người kí vào phần cuối của đơn khởi kiện) bao giờ cũng là cá nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính.” Do đó, trong trường hợp cá nhân là người chưa thành niên hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự mà trực tiếp thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính, thì toà án cần xác định việc khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân này đã vi phạm về hình thức khởi kiện vụ án hành chính và căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 109 của Luật này dé trả lại đơn khởi kiện.
- Thứ ba, thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lí do chính đáng Đây là trường hợp khởi kiện vụ án hành chính vi phạm điều kiện khởi kiện thứ hai được nêu ra ở tiểu mục 2 thuộc mục II của Chương này. Tuy vậy, toà án cũng có thể thụ lí vụ án hành chính nếu việc chậm trễ khởi kiện vụ án hành chính là có lí do chính đáng” (trừ trường hợp khởi kiện vụ án hành (1).Xem: Khoản 3 Điều 48 Luật tố tụng hành chính.Xem thêm: Khoản 3 Điêu 104 Luật tô tụng hành chính 242 chính về danh sách cử tri). - Thứ tr, chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính đã liệt kê trùng lặp nhiều trường hợp toà án trả lại đơn khởi kiện do việc khởi kiện vụ án hành chính chưa đủ điều kiện (tại các điểm a, c, d, e, ø của khoản này).
Do đó, để tránh sự nhằm lẫn, thiếu nhất quán trong việc viện dẫn căn cứ pháp lí cho việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính do chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính thì trường hợp được quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cần được xác định là trường hợp việc khởi kiện vụ án hành chính không được thực hiện trong những trường hợp được quy định tại Điều 103 của Luật này, ví dụ như: Cá nhân, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật trong trường hợp đã khiếu nại với người có thâm quyền giải quyết khiếu nại nhưng chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại và chưa có kết quả giải quyết khiếu nai của người có thâm quyên giải quyết khiếu nại; hoặc cá nhân khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri trong trường hợp chưa khiếu nại với cơ quan có thâm quyền giải quyết khiếu nại v. - Thứ năm, sự việc đã được giải quyết băng bản án hoặc quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, các “bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tô chức chính trị-xã hội, tổ chức 243 xã hội, tổ chức xã hội-nghê nghiệp, tô chức kinh tế, don vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của toà án phải nghiêm chỉnh chấp hanh”.
Do vậy, đối với những sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án thì các cá nhân, tô chức có liên quan không được quyền khởi kiện yêu cầu toà án thụ lí giải quyết lại vụ việc đó (trừ trường hợp toà án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 121, điểm a và c khoản 2 Điều 131 và khoản 2 Điều 203 Luật tố tụng hành chính). Trong trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật thì cá nhân, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại với người có thẩm quyên giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị người có thâm quyền kháng nghị bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thâm hay tái thâm. Như vậy, không phải là trong mọi trường hợp toà án đều trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc được khởi kiện đã được giải quyết băng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án.