Tuy nhiên, theo Điều 35 UNCLOS 1982, chế độ quá cảnh và chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế không được ảnh hưởng tới: - Chế độ pháp lí của vùng nội thủy thuộc một eo biển quốc tế, trừ khi việc vạch ra một tuyến đường cơ sở thăng theo đúng với phương pháp nói ở Điều 7 UNCLOS 1982 đã gộp vào trong nội thủy những vùng nước trước đây không được coi là nội thủy. - Chế độ pháp lí của các vùng nước nằm ngoài lãnh hải của các quốc gia ven eo biển, dù chúng thuộc vùng đặc quyền kinh tế hay thuộc biển cả. Eo biển quốc tế áp dụng các chế độ pháp lí khác Ngoài hai chế độ pháp lí chủ yếu là quá cảnh và đi qua không gây hại, UNCLOS 1982 còn đề cập đến khả năng áp dụng các chế độ pháp lí khác dành cho các eo biển quốc tế. * Eo biển áp dụng chế độ tự do hàng hải, tự do hàng không Điều 36 UNCLOS 1982 quy định chế độ quá cảnh và chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế không được áp dụng đối với các eo biển mà có thể vượt qua các eo biển này bằng một con đường ở biển cả hay ở vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thé về phương diện hàng hải và các đặc điểm thuỷ văn.
Tại các eo biển này áp dụng quyền tự do hàng hải và tự do hàng không (như eo biển Mozambique, eo biển Bering. Trong trường hợp không tồn tại tuyến đường thuận tiện đó, tàu thuyền và phương tiện bay vẫn được hưởng quyền quá cảnh qua eo biển. 209 / * TERRITORIAL SEA HIGH SEAS REGIME» HIGH SEAS or >— EXCLUSIVE ECONOMIC @ ZONE HIGH SEAS or EXCLUSIVE ECONOMIC ZONE ———— ` Neg ee seatTorta sep Eo biển theo quy định của Điều 36 UNCLOS 1982' * Eo biển áp dụng chế độ đặc thù quy định trong điều ước quốc té: Theo điểm c Điều 35 UNCLOS 1982, eo biển mà việc đi qua đã được quy định toàn bộ hay từng phan trong các điều ước quốc tế đặc biệt, đã có từ lâu đời và vẫn đang có hiệu lực thì chế độ pháp lí được áp dụng theo quy định của chính các điều ước quốc tế đó. Một số eo biển thuộc nhóm này như eo biển Thé Nhĩ Kỳ, eo biển Dan Mach, eo biển Magellan.
- Eo biển Thổ Nhĩ Ky: Eo biển Thổ Nhĩ Ky bao gồm tập hợp hai eo biển Dardanelles và Bosphorus, nối Biển Aegean với Biển Marmara và Biển Đen. Chế độ pháp lí của eo biển Thổ Nhĩ Kỳ được điều chỉnh bởi Công ước Montreux năm ' http:/www.com/q/international_ straits 210 1936, theo đó các tàu chiến, tàu thương mại và phương tiện bay dân dụng đều được hưởng quyên tự do qua lại. - Eo biển Đan Mạch: Eo biển Đan Mạch gồm tập hợp ba eo biển Little Belt, Great Belt và Oresund Sound nói Biển Baltic với Biển Bắc. Theo Hiệp ước Copenhagen ngày 14 tháng 3 năm 1857 giữa Đan Mạch và các quốc gia châu Âu, tất cả tàu thuyền đều được đi qua eo biển Đan Mạch mà không gặp bất kì sự trở ngại hoặc bắt giữ nào.” - Eo biển Magellan: Eo biển Magellan năm giữa Argentina và Chile, nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Theo Điều 5 Hiệp ước năm 1881 giữa Argentina va Chile, eo biển Magellan có chế độ trung lập và tàu thuyền treo cờ của mọi quốc gia đều được tự do qua lại.” Chế độ này cũng tiếp tục được duy trì theo Điều 10 Hiệp ước Hoà bình và hữu nghị giữa Argentian và Chile năm 1984." Việc hình thành nhiều chế độ pháp lí khác nhau áp dụng đối với các eo biển quốc tế phản ánh sự đa dạng về vị trí cũng như về ý nghĩa và tam quan trọng của eo biển không chỉ đối với các quốc gia có liên quan trực tiếp mà còn đối với tất cả các quốc gia khác. Về cơ bản, cũng như vùng nước quần đảo, chế độ pháp lí của eo biển quốc tế luôn là sự dung hoà lợi ích ' The American Journal of International Law Vol. * Great Belt Case, Counter - Memorial Submitted by Denmark, vol. > The Treaty Between Argentine Republic and Chile, Establishing the Neutrality of Straits of Magellan, (1909) 3 AJIL Supplement pp.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/PDFFILES/ TREATIES/CHL-ARG1984PF.PDF 211 giữa các quốc gia, vừa đảm bao chủ quyền của quốc gia ven eo biển đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, vừa đảm bảo lợi ích của các quốc gia khác trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả eo biển cho mục dich vận chuyên hàng hai, hàng không quốc tế.
CÂU HOI HƯỚNG DAN ON TAP, DINH HUONG THAO LUAN 1. Phân tích khái niệm quan đảo và quốc gia quan đảo. Phân tích cách xác định đường cơ sở của quốc gia quần đảo và so sánh với cách xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển. Phân tích chế độ pháp lí của vùng nước quan đảo.
Đánh giá thực tiên xác định vùng nước quân đảo của một sô quôc gia. Phân tích khái niệm và phân loại eo biên quôc tê. Phân tích chế độ pháp lí của eo biên quốc tế. 212 Chương 7 PHAN ĐỊNH BIEN GIỮA CAC QUOC GIA DOI DIEN HOAC LIEN KE Trong nhiều trường hợp, quốc gia ven biển không thé mở rộng phạm vi các vùng biên thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của mình ra tới giới hạn xa nhất về phía biển như là luật quốc tế cho phép bởi vì các quốc gia đối diện hoặc liền kề cũng có yêu sách hợp pháp tương ứng.
Vì vậy, vấn đề phân định vùng biển chồng lấn nảy sinh giữa các quốc gia và cần phải được giải quyết trên cơ sở quy định của luật quốc tế. KHÁI NIEM PHAN ĐỊNH BIEN 1. Dinh nghia Trong các van bản pháp lí quốc tế, thuật ngữ “phan định - delimitation” được sử dụng với hai nghĩa khác nhau nhằm đề cập tới việc xác định ranh giới các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia (Điều 50 UNCLOS 1982), hoặc xác định đường ranh giới chung trong trường hợp tồn tại vùng bién chồng lan giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền kề (Điều 15, Điều 74 và Điều 83 UNCLOS 1982). Tuy nhiên, phán quyết của Tòa án Công lí quốc tế (ICJ) trong vụ phân định thềm lục địa ở Biển Aegean (Greece - 213 Turkey) ngày 19 tháng 12 năm 1978 đã xác định mục dich cua phân định biển là “vạch một con đường chính xác hoặc nhiều con đường chính xác nơi gặp nhau của các vùng không gian tại đó thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền tương ứng của hai quốc gia”.' Như vậy, theo quan điểm của ICJ, phân định biển chỉ đặt ra trong trường hợp tồn tại vùng biển chồng lan có cùng danh nghĩa pháp lí, và vì vậy, cần xác định đường ranh giới chung giữa các quốc gia.
Từ góc độ này, có thé định nghĩa phân định biển là hoạt động do hai hay nhiều quốc gia thực hiện, trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên thứ ba, phù hợp với các quy định của luật quốc tế, nhằm xác định các danh nghĩa pháp lí trong ứng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lắn. Việc phân định vùng biên chồng lan không những giúp các quốc gia giải quyết tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển mà còn giúp cho các quốc gia thực thi một cách thực tế và hiệu quả các van đề về khai thác, quản lí biển và thực thi quyền tài phán trên các vùng biên. Chủ thể phân định biển Quá trình phân định biển có tính chính trị, pháp lí và kĩ thuật liên quan đến ít nhất là hai quốc gia - chủ thể của luật quốc tế được đặc trưng bởi các yếu tô cấu thành và thuộc tính ' Các Báo cáo của ICJ 1978 (85), vụ Thêm luc địa biển Aegean (Greece - Turkey), tr. Xem thêm, PCA Case No 2013-19, Arbitral Tribunal, Award on jurisdiction and admissibility, ngày 29 thang 10 nam 2015, tr.
Do không có lãnh thé xác định nên các tổ chức quốc tế, vi dụ như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Cơ quan quyền lực đáy đại đương (ISA). không thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế về phân định biến với tư cách chủ thé. Tương tự, quan hệ về phân định biển giữa các bang trong một quốc gia liên bang hay giữa các vùng, miền của một quốc gia với nhau cũng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế về phân định biến. Điều kiện phân định biển Phân định bién chỉ đặt ra trong trường hợp ton tại sự chồng lấn các vùng biển mà các quốc gia tranh chấp đều có cùng danh nghĩa pháp lí, tức là các quốc gia đều có cơ sở pháp lí để yêu sách các vùng biển của mình.
Ví dụ, theo quy định của UNCLOS 1982, cả hai quốc gia có bờ biển đối diện hay liền kề đều có quyền mở rộng vùng đặc quyền kinh tế ra tới giới hạn 200 hai lí ké từ đường cơ sở. Như vậy, hai quốc gia này có cùng danh nghĩa pháp lí để có vùng đặc quyền kinh tế mà UNCLOS 1982 trao cho họ. Trong vu thém luc dia Libya - Malta năm 1984, ICJ cho rang, “van đề danh nghĩa. va van dé phân định.
là hai vấn đề không hoàn toàn khác biệt nhau mà ngược lại còn bố sung cho nhau”. ITLOS cũng đồng tinh với quan điểm này khi cho rằng “phân định biến giả định trước một vùng có các danh nghĩa chồng lan nên bước đầu tiên của bất kì quá trình phân định nào sẽ là xác định liệu có các danh nghĩa hay không và các danh nghĩa đó có chồng lấn hay ! Các Báo cáo của ICJ 1985, vụ phân định thêm luc địa giữa Libyan va Malta (Libyan Arab Jarnahiriya - Malta), tr.' Để xác định được điều này, trong vụ Bangladesh - Myanmar năm 2012, trước hết ITLOS xem xét quan điểm của các bên liên quan đến danh nghĩa và phân tích sự kéo dai tự nhiên của thêm lục địa Bangladesh và Myanmar. Sau đó, ITLOS xác định liệu các bên có danh nghĩa với thêm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lí hay không và các danh nghĩa đó có chồng lấn với nhau hay không. Trên cơ sở kết luận rằng, cả Bangladesh và Myanmar đều có danh nghĩa đối với thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lí và đệ trình của hai quốc gia này lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) cho thấy các danh nghĩa đó chồng lan với nhau tại vùng biển tranh chấp, ITLOS mới đưa ra quyết định thực hiện việc phân định thêm lục địa giữa hai quốc gia.