đặt vấn đề pháp điển hóa pháp luật về quyền con người trong dé tài thì đối tượng thực hiện sẽ là các cơ quan nhà nước. Điều này không những không phù hợp với mục tiêu của đề tài mà còn đặt ra việc xây dựng các cơ chế pháp lý phức tạp dé thực hiện hoạt động trên. Vì vậy, phạm vi khái niệm hệ thống hóa pháp luật được dùng trong đề tài chỉ là tập hợp hóa. Tuy vậy, cần phải thấy, giữa tập hợp hóa và pháp điển hóa có mối liên hệ quan trọng.
Cụ thể, thông qua việc sắp xếp, tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật, có thể thấy được những lỗ hồng pháp luật, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định qua đó hình thành nên những khuyến nghị giúp các cơ quan nhà nước thực hiện được dễ dàng và chính xác hơn hoạt động pháp điển hóa của mình. Đặc biệt trong lĩnh vực quyền con người, việc xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh nhằm đảm bảo và thúc đây > ` r quyền con người. Đây được coi là một “nghia vu chủ động ” “ cua nhà nước. Do 12 đó có thê thấy rằng, khi được cung cấp các khuyến nghị về pháp điển hóa pháp luật về quyền con người, nhà nước có trách nhiệm phải xem xét và có những động thái phù hợp.
Bên cạnh đó, thực tế cho thay rang, việc tap hợp hóa không chi dừng lại ở việc sắp xếp các quy định mà còn có thể đặt thêm những bình luận, chú giải theo quan điểm chuyên môn riêng. Điều này cũng phần nào làm gia tăng giá trị của sản phẩm tập hợp hóa, làm nên tính độc đáo mà các sản phẩm pháp điển hóa không có được. Trong bối cảnh quan niệm về nguồn luật đang ngày càng mở rộng, án lệ được công nhận, lẽ công băng được áp dung’; viéc giai thich phap là Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, La Khánh Tung, Sdd, trang 70. Ộ '3 Điều 6 Bộ luật dân sự 2015 có một điểm mới là cho phép sử dụng lẽ công bằng trong áp dụng pháp luật.
14 luật trên tinh thần công lý của các học giả, luật gia sẽ đóng vai trò quan trọng với tư cách một nguồn luật trong tương lai. Bình luận khoa học pháp luật là hoạt động chủ yếu được thực hiện bởi các luật gia, chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý. Trong đó, họ thực hiện các công việc như nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật để đưa ra những bình luận, đánh giá xác đáng về pháp luật, từ đó làm sáng tỏ những ưu điểm và hạn chế của pháp luật và tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật. Kết quả của hoạt động bình luận pháp luật về mặt khoa học là các đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí hoặc các bài giảng, bài bình luận về pháp luật.
Các tác phẩm này có ý nghĩa trong việc làm sáng rõ tính khoa học của pháp luật, giúp những người nghiên cứu pháp luật có thé tiếp cận trên góc độ học thuật. Đây tuy không phải là một hoạt động xây dựng hay hoàn thiện pháp luật nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng khi tiếp cận luật pháp. Nhiều tác phẩm bình luận khoa học pháp luật được đem ra dẫn giải trong các quyết định áp dụng pháp luật của các nước thuộc dòng họ pháp luật Civil Law_ tức là các nước có truyền thống coi trọng lý luận pháp luật và có hình thức pháp luật chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật. Ngay từ truyền thống, một kiệt tác pháp điển hóa là bộ Tổng tập pháp luật dân sự (Corpus Juris Civilis) do Hoàng đế La Mã Justinian ban hành đã có một phan là Pandects, tức là ý kiến của các nhà luật học *.
Hay ở nước Mỹ bên cạnh bộ pháp điển US Codes còn có bộ pháp điển có chú giải US Code Annotated do các luật gia viết nên ”. Đây có thé coi là những sản phẩm bình luận khoa học có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng. Một van đề khác cần phải xem xét khi nói đến hệ thống hóa pháp luật về quyền con người đó là lĩnh vực pháp luật về quyền con người (hay luật nhân quyên) là gì? Thực tế cho thấy rằng, khoa học về lý luận chung nhà nước và pháp luật chưa thừa nhận luật nhân quyền là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. Thường thì luật hiến pháp là ngành luật tương đối gần gũi với linh vực luật nhân quyên bởi các quan niệm hiện đại thường nhìn nhận hiên '* Nguyễn Văn Nam, Tldd.
; ! Hoài Thu, Các bộ pháp điên hóa của My, http://daibieunhandan.aspx?tabid=77&NewsId=36586, truy cập ngày 10/7/2016. 15 pháp như một “dao luật có nguôn gốc và mục đích bảo vệ quyên con người, được coi là đạo luật nhân quyền ”'" Bản thân khoa học luật hiến pháp Việt Nam truyền thống vẫn coi quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân là một nội dung thuộc chế định về địa vị pháp lý cơ bản của con người và công dân'”. Tuy nhiên, thực tế cho thay quyền con người dang phát triển và dan định hình như một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật. Ở cấp độ quốc tế, luật nhân quyền quốc tế (international humanrights law) đã được công nhận là một ngành luật độc lập'Ÿ.
Các ngành đào tạo chuyên biệt về quyền con người đã và đang được mở ra không chỉ tại các nước trên thế giới mà còn chính ở Việt Nam. Điều này cho thấy lĩnh vực luật nhân quyên, tuy mới thành hình, nhưng đang trong xu thế được thê nhận và sẽ có vị trí quan trọng trong cả nghiên cứu lẫn thực tiễn. Tuy nhiên, trong bối cảnh vấn đề quyền con người nằm rải rác trên nhiều lĩnh vực và nhiều ngành luật, việc làm rõ khái niệm quyền con người là điều cần thiết để nhận diện đâu là một quy định pháp luật liên quan đến quyền COn người. Trước hết, khái niệm quyền con người chứng kiến một sự giao thoa phức tạp giữa các luồng tư tưởng chính trị, đạo đức, tôn giáo, triết học”.
Nhìn chung, quyền con người thường được coi là những nhu cau, khả năng cơ bản của con người, gắn liền với những giá trị nhân phẩm của loài người. Như vậy, khái niệm quyền con người đã bao quát hầu như toàn bộ những khía cạnh trong sinh hoạt thé lý cũng như tư tưởng của con người. Cụ thé hơn, từ góc độ tâm lý học, nhu cầu của con người được tổng hợp trong Tháp nhu cầu Maslow bao gồm: nhu cầu thé chất, nhu cau an toàn, nhu cầu tinh cảm, nhu cầu được quý trọng, nhu cầu tự thê hiện bản thân ””. Điều đó cũng phản ánh trong những quyên cụ thể như quyền được sông, quyền tự do thân thê, tự do đi lại, tự do biéu đạt, tự do lương tam.
'© Đăng Minh Tuấn, Bảo hiến và vấn dé bảo vệ quyên con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015, trang 5. !” Trường Dai học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, trang 13. '3 Nguyễn Dang Dung, Vũ Công Giao, La Khánh Tùng, Sdd, trang 29. ' Đào Trí Úc, Van dé quyên con người trong tiễn trình phát triển của các học thuyết chính trị pháp lý, Ky yêu hội thảo khoa học: Giảng dạy lồng ghép quyền con người trong các môn học Lý luận chung về nhà nước & pháp luật, lịch sử nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015.
Maslow, A theory of Human Motivation, Psychological Review 50, 1943. 16 Nhìn chung, muốn nhận diện một quy định của pháp luật có thuộc lĩnh vực quyền con người hay không, theo chúng tôi, can phải dựa trên những dấu hiệu nhất định. Đầu tiên, dựa trên các quyền cụ thé đã được hiến pháp và các văn kiện quốc tế dé cập. Day là căn cứ pháp lý quan trọng dé xác định mức độ liên quan của một quy định pháp luật có thực sự gần với lĩnh vực nhân quyền hay không.
Trong hiến pháp 2013, các quyền cụ thể của con người được trình bày trong chương II, bao hàm nhiều khía cạnh văn hóa, kinh tế, cá thể. Đối với luật quốc tế, Hiễn chương Liên hợp quốc về quyền con người, Công ước về quyền dân sự chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa là những nguồn cơ bản nhằm xác định các quyền cụ thể của con người. Thứ hai, mặc dù quyền con người là nội dung trải dài trên nhiều lĩnh vực pháp luật, nhưng về cơ bản nội dung quy định của pháp luật về quyền con người được phan ánh thông qua các nguyên tắc cơ bản. Cụ thé, dựa trên tinh than của điều 14 hiến pháp 2013, các quy định được cho là có tác động trực tiếp và thuộc về lĩnh vực quyền con người nếu nó có nội dung hướng tới việc “công nhận” hay “tôn trọng” hay “bảo vệ” hay “bảo đảm” hay “hạn chế” quyên con người.
Một cách rõ ràng hơn, khi xem xét một quy định pháp luật, nếu nội dung của nó thuộc về một trong những xu hướng trên thì có thể nhận định quy định đó nằm trong lĩnh vực quyên con người. Nhìn chung, thông qua việc nghiên cứu các khái niệm cơ bản, một số vấn đề mang tính định hướng có thê rút ra là: - Hình thức hệ thống hóa được sử dụng trong dé tài là tập hợp hóa, trong đó có gắn liền với hoạt động bình luận pháp luật. Hình thức này là phù hợp với mục đích và yêu cầu mang tính chất học thuật của hoạt động hệ thống hóa pháp luật về quyên con người trong bối cảnh giảng dạy, nghiên cứu luật hiến pháp. - Lĩnh vực quyền con người được xem xét trong hoạt động hệ thống hóa pháp luật ở đây bao hàm nhiều lĩnh vực, tuy nhiên chúng được xác định dựa theo những căn cứ và dấu hiệu cụ thé nham tránh việc đưa quá nhiều quy định vào trong sản phâm hệ thống hóa.
Phạm vi đối tượng hệ thông hóa pháp luật về quyên con người Như đã trình bày, đối tượng của hoạt động hệ thống hóa pháp luật là các quy định của pháp luật (các quy phạm pháp luật) hay các loại nguồn của pháp luật. Điều đó cho thấy, xét một cách tổng quát, hoạt động hệ thông hóa pháp luật tác động đến gần như là toàn bộ các bộ phận của hệ thống pháp luật. Các nguồn cơ bản và chủ yếu của pháp luật ngày nay có thê nói tới là luật thành văn và án lệ. Đây cũng là hai nguồn luật đặc trưng của hai hệ thống Thông luật và Dân luật.
Đối với hệ thống thông luật, hoạt động tập hợp hóa chủ yếu được thực hiện với các án lệ và có thé được thực hiện bởi nhiều chủ thé.