Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh tay chân miệng 1. Khái niệm chung về bệnh tay chân miệng Tay Chân Miệng là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, lây truyền qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn. Dấu hiệu đặc trưng là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng, da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông.
Hầu hết các đều diễn biến nhẹ. Tuy nhiên ở một số trường hợp, bệnh có thể diễn biến nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nên cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời (2). Bệnh lưu hành ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tại nước ta, bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương, số mắc thường tăng trong khoảng tháng 3 - 5 và tháng 9 đến 12.
Tác nhân gây bệnh tay chân miệng Bệnh Tay chân miệng gây ra do các nhóm vi rút đường ruột có khả năng gây bệnh, trong nhóm này gồm vi rút Coxsackies, Echo và các loại khác, trong đó hay gặp là vi rút đường ruột týp 71 (EV71) và Coxsackie A16, A6. Vi rút EV 71 có thể gây các biến chứng nặng và dẫn đến tử vong. Các vi rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ. Vi rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 4oC.
Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt được chúng (3). Nguồn bệnh, thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ lây truyền (2) Nguồn bệnh: là người mắc bệnh, người mang vi rút không triệu chứng. Thời kỳ ủ bệnh: từ 3 đến 7 ngày. Thời kỳ lây truyền: vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của thời kỳ, có khả năng kéo dài vài tuần sau đó thậm chí sau khi bệnh đã hết triệu chứng.
Vi rút có khả năng đào thải qua phân trong khoảng từ 2 - 4 tuần; cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi bị nhiễm. Vi rút tồn tại, nhân lên ở đường hô hấp trên và đào 5 thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần, trong các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân. Đường lây truyền (2) Vi rút gây Tay chân miệng lây truyền theo đường tiêu hoá thông qua nước uống, bàn tay của trẻ, của NCST, đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi hay vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét, dịch tiết hô hấp, nước bọt. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt.
Một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền gây bùng phát bệnh TCM như: mật độ dân số cao, sống chật chội; điều kiện vệ sinh kém; nhà tiêu chưa đạt chuẩn; thiếu hoặc không có đủ nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Tính cảm nhiễm (2) Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi rút gây bệnh nhưng không phải người nhiễm vi rút đều có biểu hiện triệu chứng. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi. Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây.
Hệ thống thông tin, báo cáo bệnh tay chân miệng (2) Thực hiện báo cáo chung theo quy định tại Thông tư 54/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm. Ngoài ra các cơ sở khám, chữa bệnh, các đơn vị y tế dự phòng phải báo cáo theo nội dung cụ thể sau: - Báo cáo tất cả các trường hợp tử vong và các ca được lấy mẫu bệnh phẩm theo điều tra mẫu số 1. + Các chi tiết và phiếu điều tra trường hợp tử vong phải được gửi cho Cục Y tế dự phòng và Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur trong vòng 48 giờ sau khi bệnh nhân tử vong. + Phiếu điều tra lấy mẫu phải gửi kèm khi chuyển mẫu bệnh phẩm đến phòng thí nghiệm.
6 - Lập danh sách tất cả các trường hợp bệnh (lâm sàng và xác định) theo mẫu số 2, các cơ sở khám, chữa bệnh tổng hợp và nộp hàng ngày cho các đơn vị y tế dự phòng. - Căn cứ vào tình hình thực tế, việc thu thập thông tin bổ sung sẽ do các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur yêu cầu theo các biểu mẫu báo cáo cụ thể. Tình trạng bệnh tay chân miệng 1. Tình trạng bệnh tay chân miệng trên thế giới EV71 gây bệnh TCM được xác định đầu tiên vào năm 1969 ở trẻ bị viêm màng não tại bang California, Hoa Kỳ.
Đến năm 1974, lần đầu bệnh TCM được mô tả bởi tác giả Schmidt và cộng sự cũng tại quốc gia này, dưới dạng bệnh liên quan tới nhiễm trùng EV71 trên 20 bệnh nhân có các triệu chứng ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (7). Từ đó bệnh lưu hành ở nhiều nước trên thế giới vào thập niên 70, dịch xảy ra đầu tiên ở các nước Âu Mỹ, với bệnh cảnh lâm sàng nhẹ và hiếm tử vong. Đến thập niên 1990, bệnh mới được chú ý tại các nước Á Châu, gây ra các trận dịch lớn và nhiều trường hợp tử vong được ghi nhận. Trong năm 2018, bệnh TCM diễn biến phức tạp ở một số nước như Nhật Bản đến tuần 32, đã 69.041 trường hợp mắc; tại Trung Quốc, từ ngày 1 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018, tổng cộng có 37.629 trường hợp mắc bệnh TCM và 4 trường hợp tử vong đã được báo cáo; tại Singapore có 26.252 trường hợp đã được báo cáo kể từ đầu năm.
Số lượng các trường hợp được báo cáo đã tăng kể từ tuần 25 và cao hơn số trường hợp hàng tuần được báo cáo trong cùng khoảng thời gian của năm năm trước (7). Tác nhân chính gây ra bệnh TCM là các loài Enterovirus nhóm A ở người (HEV-A), đặc biệt là coxsackievirus A16 (CA16) và enterovirus 71 (EV71) trong họ Picornaviridae. Các týp huyết thanh khác như Coxsackievirus A6 và Coxsackievirus A10, cũng liên quan đến TCM và mụn rộp. Mặc dù tất cả những loại vi rút này có thể gây bệnh nhẹ ở trẻ em, EV71 có liên quan đến bệnh thần kinh và tỉ lệ tử vong trong các đợt bùng phát lớn ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong thập kỷ qua (1).
Phân bố theo mùa bệnh TCM ở các nước khu vực Đông Nam 7 Á cũng khác nhau; số mắc tập trung vào tháng thu đông, có đỉnh bệnh từ tháng 6 - 10 (1), (7). Tình trạng bệnh tay chân miệng tại Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh TCM được phát hiện đầu tiên vào năm 2002 qua báo cáo của Bệnh viện Nhi Đồng 1, TPHCM. Năm 2003, một đợt bùng phát viêm não cấp tính liên quan đến bệnh TCM được báo cáo tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, 764 trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh TCM tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua giám sát trọng điểm tại bệnh viện nhi lớn nhất, với đa số các trường hợp (96,2%) từ 5 tuổi trở xuống.
Kết quả phân lập 411 mẫu bệnh phẩm, có 173 (42,1%) được xác định là EV71 và 214 (52,1%) là CA16. Năm 2005 bệnh TCM tiếp tục gia tăng tại các tỉnh phía Nam và bùng phát dịch vào năm 2011 và vẫn diễn biến phức tạp (5), (6). Bệnh TCM gặp rải rác quanh năm, ở hầu hết 63 tỉnh, thành, tập trung chủ yếu tại 20 tỉnh thành KVPN, nơi chiếm đến 82,4% số ca mắc và 87,8% số ca tử vong của cả nước (5). Trong năm 2011 đã xảy ra dịch TCM, qua hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm quốc gia, cả nước ghi nhận được 113.121 ca mắc trên 20 tỉnh, thành và 170 trường hợp tử vong trên 19 tỉnh, thành (3).
Tại một số tỉnh phía Bắc, bệnh thường xảy ra vào mùa hè (8). Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm trong năm, từ tháng 3 đến tháng 5 và cao nhất thường từ tháng 9 đến tháng 12 (2). Đặc biệt trong năm 2011, dịch TCM tại KVPN xảy ra chỉ với một đỉnh dịch xuất hiện trong tháng 9, tháng 10 (9). Thống kê số ca mắc-chết bệnh TCM KVPN (2011-2018) Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Mắc 70.6 1,9 0,9 0,8 0 0,7 1,1 Năm 2011, khi bệnh TCM bùng phát diện rộng trên cả nước, KVPN có số ca mắc tăng gấp 6,9 lần so với cùng kỳ, chiếm đến 62% số ca mắc, 85% số trường hợp 8 tử vong trong đợt dịch này và TPHCM là địa phương dẫn đầu về số ca mắc, chết tuyệt đối (5), (10).
Đến năm 2012, trong khi số trường hợp tử vong tại KVPN giảm đến 71,7%, nhưng số ca TCM vẫn tăng 16,4% so với năm có dịch trước đó và các ổ dịch có xu hướng lây lan sang các tỉnh phía Bắc của Việt Nam (11). Tình trạng bệnh Tay chân miệng tại Tiền Giang và huyện Gò Công Đông Tỉnh Gò Công Đông 4000 3296 3000 3011 2688 2524 2000 1679 1351 1000 259 355 182 311 344 88 0 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Tiền Giang là một trong các tỉnh của Khu vực phía Nam, có số mắc và tử vong TCM cao, những ca bệnh đầu tiên được ghi nhận vào năm 2006 thông qua hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm trọng điểm của Viện Pasteur TPHCM. Từ năm 2007, bệnh TCM được giám sát phát hiện qua hệ thống thông tin báo cáo các bệnh truyền nhiễm tại địa phương, ghi nhận số ca mắc hàng năm liên tục gia tăng và lan rộng khắp 10 huyện, thị thành trong toàn tỉnh. Tại Tiền Giang, bệnh TCM bùng phát dịch theo chu kỳ từ 3-5 năm, giai đoạn (2013-2014) với số mắc trên 1500 trường hợp mỗi năm, giảm dần trong 2 năm 2015- 2016.
Đến năm 2017, dịch bùng phát trở lại với số mắc trên 3000 trường hợp mỗi năm và kéo dài đến năm 2018. Trong năm 2018, có 2 trường hợp bệnh TCM do EV 71 tử vong tại huyện Cái Bè.