Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số: 976.01) của nghiên cứu sinh Đỗ Anh Hòa, được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hữu Nghị và TS. Bùi Thị Mai Đông, tập trung vào đề tài: "Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh".
Về tính cấp thiết, văn bản chỉ ra rằng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2015, cả nước có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gần 2,5 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; số trẻ em khuyết tật là trên 1,2 triệu trẻ, chiếm 1,4% tổng dân số và 3,1% tổng số trẻ em. Trong nhóm khuyết tật về trí tuệ, trẻ em bị rối loạn tâm thần là một trong những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy tỷ lệ trẻ em mắc rối loạn tâm thần trong cộng đồng ở các nước phát triển là từ 10% đến 20%, và ở các nước đang phát triển tỷ lệ này cũng ở mức tương tự. Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ ghi nhận tỷ lệ trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần dao động từ 13% đến 20%, riêng khảo sát của tác giả Lê Thị Ngọc Dung và cộng sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ 21,3%. Tại tỉnh Quảng Ninh, số liệu năm 2019 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy toàn tỉnh có 319.807 trẻ em từ 0 đến 16 tuổi; đề tài cấp tỉnh của Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh khảo sát 3.656 trẻ xác định tỷ lệ trẻ em rối loạn tâm thần là 10,1%.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù Quảng Ninh là địa phương tích cực triển khai các đề án an sinh xã hội, song các dịch vụ công tác xã hội trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần và gia đình tại đây vẫn còn nhỏ lẻ, chưa đáp ứng nhu cầu, tính chuyên nghiệp còn hạn chế; đồng thời chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần dưới cả góc độ lý thuyết và thực tiễn để làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình can thiệp.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần, từ đó đề xuất biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng của cha mẹ, người chăm sóc và khuyến nghị nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần; các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ này tại tỉnh Quảng Ninh.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần và các yếu tố ảnh hưởng tại tỉnh Quảng Ninh.
- Tổ chức thực nghiệm tác động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng hướng dẫn trợ giúp cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ em rối loạn tâm thần.
- Đưa ra một số khuyến nghị về các dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc, trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần đạt hiệu quả hơn.
Hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu được xác định:
- Câu hỏi 1: Hiện nay tại tỉnh Quảng Ninh đã có các dịch vụ công tác xã hội nào đối với trẻ em rối loạn tâm thần?
- Câu hỏi 2: Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh?
- Câu hỏi 3: Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em rối loạn tâm thần cần có kiến thức, kỹ năng gì trong việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần tại gia đình?
- Câu hỏi 4: Những giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả của các dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh?
Hệ thống 4 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Giả thuyết 1: Hiện nay có một số dịch vụ công tác xã hội can thiệp, trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần đã được thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh như: Sàng lọc, can thiệp sớm; Tham vấn, tư vấn cho gia đình; Kết nối, chuyển tuyến, hỗ trợ chính sách; Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo.
- Giả thuyết 2: Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: Chính sách, pháp luật; Đội ngũ cung cấp dịch vụ công tác xã hội; Đặc điểm của trẻ em rối loạn tâm thần; Gia đình trẻ em rối loạn tâm thần; Cơ sở cung cấp dịch vụ.
- Giả thuyết 3: Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em rối loạn tâm thần tại Quảng Ninh đang thiếu kiến thức, kỹ năng để chăm sóc và giáo dục trẻ; do đó họ cần được đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng để chăm sóc trẻ tốt hơn.
- Giả thuyết 4: Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh cần triển khai các giải pháp đồng bộ về chính sách, cung cấp dịch vụ và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cung cấp dịch vụ.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần.
- Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cung cấp dịch vụ công tác xã hội và cha mẹ/người chăm sóc trẻ em rối loạn tâm thần (trong đó có 110 cha, mẹ, người chăm sóc trẻ tham gia khảo sát bảng hỏi).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nhóm dịch vụ công tác xã hội cơ bản (sàng lọc, can thiệp sớm; tham vấn, tư vấn cho gia đình; kết nối, chuyển gửi, hỗ trợ chính sách; truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo) và 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng. Đối tượng trẻ em thuộc diện nghiên cứu là trẻ từ 0 đến dưới 16 tuổi đã được các cơ sở y tế hoặc trợ giúp xã hội chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện tại các cơ sở cung cấp dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, gồm Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn, Bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh, Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần, một số phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện/thị xã/thành phố, cơ sở trợ giúp xã hội tư nhân và hệ thống Văn phòng công tác xã hội trên địa bàn tỉnh.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tế tiến hành từ tháng 5/2016 đến tháng 5/2019; số liệu, dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ năm 2011; chương trình thực nghiệm tiến hành từ tháng 6/2018 đến tháng 11/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước (gồm 86 tài liệu tiếng Việt và 24 tài liệu tiếng nước ngoài cập nhật đến tháng 9/2019) theo hai nhóm nội dung chính:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Về vấn đề sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần ở trẻ em: Jane D. McLeod và Michael J. Shanahan (1993) trong hai công trình nghiên cứu về nghèo đói và sức khỏe tâm thần trẻ em đã chứng minh trẻ sống trong hoàn cảnh nghèo khó lâu dài có nguy cơ xuất hiện các triệu chứng rối loạn tâm thần âm thầm từ bên trong. Mark Olfson, Steven C. Marcus, Benjamin Druss, Harold Alan Pincus và Myrna M. Weissman (2003) xác định trẻ sống cùng cha mẹ mắc trầm cảm có nguy cơ gặp vấn đề sức khỏe tâm thần cao gấp 2,8 lần so với trẻ bình thường. Betsy McAlister Groves (1999) chỉ ra các sang chấn hành vi, trầm cảm và suy giảm năng lực xã hội ở trẻ em chứng kiến bạo lực gia đình.
- Về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần: Elizabeth M. Phillips, Adrian Angold và E. Jane Costello (2001) nghiên cứu việc tiếp cận dịch vụ sức khỏe tâm thần giữa trẻ được nhận nuôi, trẻ có liên hệ với dịch vụ xã hội và trẻ nghèo chưa tiếp cận dịch vụ. Tác giả Br J Soc Work (2003) phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội và các nguyên tắc tâm lý xã hội trong thực hành cộng đồng. Susan Frauenholtz và Amy Mendenhall (2014) làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tiếp cận lấy gia đình làm trung tâm, quản lý trường hợp và điều phối dịch vụ. Geraldine Dawson tại Viện UC Davis MIND nhấn mạnh hiệu quả can thiệp tương tác xã hội sớm đối với trẻ tự kỷ. Barbara J. Burns (2011) chỉ ra các rào cản văn hóa, sự kỳ thị và tình trạng sao nhãng cản trở trẻ tiếp cận dịch vụ sức khỏe tâm thần. Kimberly Hoagwood và cộng sự (2012) phân tích các can thiệp dựa trên bằng chứng, khẳng định sự cần thiết phải phối hợp giữa dịch vụ y tế, tâm lý và công tác xã hội chuyên sâu. Mary McKernan McKay (2011) đánh giá can thiệp qua điện thoại kết hợp gặp trực tiếp đối với 109 trẻ rối loạn tâm thần đô thị. Duggan (2002) chứng minh vai trò của công tác xã hội trong việc tạo dựng môi trường trợ giúp bình đẳng và thân thiện.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Về tình trạng rối loạn tâm thần ở trẻ em: Khảo sát của Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương và Đại học Melbourne (2009) trên 21.960 học sinh Hà Nội ghi nhận gần 20% học sinh vị thành niên gặp vấn đề sức khỏe tâm thần, trong đó 3,7% có rối loạn hành vi. Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú (2009) sử dụng công cụ YRS khảo sát 1.727 học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội ghi nhận tỷ lệ mắc 10,9%. Lê Thị Ngọc Dung và cộng sự khảo sát 200 học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra tỷ lệ 21,3%. Nguyễn Cao Minh điều tra trẻ em tại 4 tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hòa Bình) xác định 18% trẻ có vấn đề sức khỏe tâm thần. Trần Tuấn (2006) tổng quan về các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ sức khỏe tâm trí trẻ em. Nguyễn Đình Chắt (2015) khảo sát 809 học sinh tại Lâm Đồng về rối nhiễu tâm trí liên quan đến vi phạm nội quy và bạo lực học đường. Nghiên cứu của RTCCD và Sở Y tế Khánh Hòa, Đà Nẵng (2009) dùng bộ công cụ SDQ25 xác định tỷ lệ rối nhiễu tâm trí ở lứa tuổi 11-17 là xấp xỉ 15%.
- Về trẻ tự kỷ: Nguyễn Thị Mai Lan (2012) phân tích tâm trạng tiêu cực của cha mẹ có con tự kỷ; Nguyễn Thị Hoa Mai (2012) hệ thống hóa 3 nhóm dấu hiệu nhận biết tự kỷ; Nguyễn Thị Hương Giang (2010) mô tả đặc điểm lâm sàng trẻ 18-36 tháng tuổi (86,9% không giao tiếp mắt, 97,6% không gật/lắc đầu, 96,8% không đáp ứng khi gọi tên); Đào Thị Thu Thủy (2008, 2012) nghiên cứu bài tập phát triển giao tiếp và hành vi ngôn ngữ; Vũ Thị Bích Hạnh (2004) biên soạn tài liệu phát hiện sớm và can thiệp sớm; Võ Nguyễn Tinh Vân (2004), Nguyễn Nữ Tâm An và cộng sự (2009) ứng dụng phương pháp TEACCH; Ngô Xuân Điệp (2009) nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ; Phạm Toàn Thắng và Lâm Hiếu Minh (2014) xuất bản sách hướng dẫn hỗ trợ trẻ tự kỷ.
- Về dịch vụ công tác xã hội: Trần Hậu và Đoàn Minh Tuấn (2012) nghiên cứu lý luận dịch vụ xã hội; Nguyễn Hải Hữu (2011) đề xuất phát triển mạng lưới dịch vụ cho nhóm đối tượng yếu thế; tài liệu của Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh (2014) và tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp UNICEF (2017) hướng dẫn kỹ năng, quy trình chăm sóc sức khỏe tâm trí; Bùi Thị Xuân Mai (2020) chuẩn hóa khái niệm dịch vụ công tác xã hội và rối loạn tâm thần.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình quốc tế tập trung vào mô hình kỹ thuật tại các quốc gia phát triển, ít đề cập bối cảnh địa phương đang phát triển; các nghiên cứu trong nước chủ yếu thiên về dịch tễ học y khoa, tâm lý lâm sàng hoặc giáo dục đặc biệt cho trẻ tự kỷ, chưa làm rõ cơ cấu vận hành của hệ thống dịch vụ công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình cung cấp dịch vụ tại một địa bàn cấp tỉnh cụ thể. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo cứu thực nghiệm toàn diện các dịch vụ công tác xã hội tại tỉnh Quảng Ninh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét các vấn đề của trẻ em rối loạn tâm thần trong mối quan hệ đa chiều với môi trường sống và chính sách xã hội.
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Được vận dụng để nhận diện các thứ bậc nhu cầu của trẻ và gia đình, từ nhu cầu an toàn, sinh học đến nhu cầu được tôn trọng và hòa nhập, làm căn cứ thiết kế chiến lược tham vấn và can thiệp.
- Thuyết hệ thống: Tiếp cận trẻ em rối loạn tâm thần như một phần tử nằm trong mối tương tác qua lại hữu cơ với hệ thống vi mô (gia đình), hệ thống trung gian (nhà trường, cơ sở trị liệu) và hệ thống vĩ mô (chính sách, pháp luật, cộng đồng).
- Các khái niệm công cụ: Công tác xã hội; Dịch vụ công tác xã hội; Sức khỏe tâm thần (theo WHO, Merikangas, Nguyễn Viết Thiêm, Nguyễn Việt); Rối loạn tâm thần (theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, chuẩn ICD-10, DSM-V, Thomas Szasz, Spitzer & Williams, Đạo luật Sức khỏe tâm thần Vương quốc Anh 1983, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bùi Thị Xuân Mai); Trẻ em (theo Luật Trẻ em 2016 là người dưới 16 tuổi; Công ước CRC); Trẻ em rối loạn tâm thần; Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần.
- Các công cụ đánh giá, sàng lọc được luận án giới thiệu và phân tích: Test Denver (Denver I với 105 mục; Denver II với 125 mục chuẩn hóa tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2000); Thang PEP-R (gồm 174 tiết mục: 131 câu hỏi đánh giá 7 lĩnh vực phát triển và 43 tiết mục quan sát hành vi, lượng giá 4 dạng rối loạn: R - quan hệ, S - giác quan, L - ngôn ngữ, M - ý thích/vật liệu); Bộ câu hỏi sàng lọc sức khỏe tâm trí SDQ (gồm 25 mục đo 5 khía cạnh: cảm xúc, hành vi, hiếu động, quan hệ đồng đẳng, quan hệ xã hội; thang điểm từ 0 đến 40). Ngoài ra văn bản nhắc đến các thang GARS-2, PSSI, GAD-7, PHQ-9.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án kết hợp đồng thời phương pháp định lượng, định tính và can thiệp thực nghiệm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu 86 tài liệu trong nước và 24 tài liệu nước ngoài.
- Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi của trẻ tại gia đình, cơ sở trị liệu và tiến trình can thiệp thông qua biên bản quan sát.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học, bác sĩ tâm thần, nhân viên công tác xã hội và giảng viên đại học.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi:
- Cỡ mẫu được tính toán theo công thức xác định quy mô mẫu:
$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$$
(với sai số tiêu chuẩn $e = 0{,}05$).
- Phiếu số 1 dành cho đội ngũ cung cấp dịch vụ công tác xã hội: Tổng thể $N = 116$, tính ra cỡ mẫu $n = 90$ người (thuộc các cơ sở trợ giúp xã hội, bệnh viện, trung tâm y tế, cán bộ trẻ em 9 xã/phường).
- Phiếu số 2 dành cho cha, mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần: Tổng thể $N = 153$, tính ra cỡ mẫu $n = 110{,}6$, lấy tròn là 110 người (tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh, Bệnh viện Sản nhi, Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn, Trường Mầm non Vì Ngày Mai, Trường Giếng Đồn, Lớp Ánh Dương). Tổng cộng khảo sát 200 phiếu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện trên 18 đối tượng (11 cán bộ, bác sĩ, nhân viên công tác xã hội và 07 cha mẹ, người nuôi dưỡng).
- Phương pháp thảo luận nhóm (TLN): 02 nhóm với 13 người tham gia (Nhóm 1 tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh gồm 6 người; Nhóm 2 tại Mô hình cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí thuộc Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn gồm 7 người).
- Phương pháp thống kê: Dữ liệu định lượng xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 21.0, sử dụng thống kê mô tả, thống kê suy luận và kiểm định Chi-square.
- Phương pháp xử lý định tính: Gỡ băng ghi âm, mã hóa và đối chiếu thông tin.
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức đào tạo kiến thức và rèn luyện kỹ năng can thiệp cho 10 cha mẹ tại thành phố Hạ Long từ tháng 6 đến tháng 11/2018 tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh; chương trình gồm 2 đợt tập huấn lý thuyết (3 ngày/đợt) kết hợp thực hành tại phòng trị liệu; tiến hành đo lường trước - sau thực nghiệm và phân tích 02 ca điển hình.
| Công cụ / Phương pháp |
Quy mô mẫu thực tế |
Địa bàn / Đơn vị thực hiện |
| Bảng hỏi đội ngũ cung cấp dịch vụ |
90 cán bộ, bác sĩ, NVCTXH |
Sở LĐTBXH, TTYT Vân Đồn, BV Sản nhi, BV BV SKTT, 9 xã/phường |
| Bảng hỏi cha mẹ, người nuôi dưỡng |
110 người chăm sóc |
TTCTXH tỉnh, BV Sản nhi, TTYT Vân Đồn, trường/lớp chuyên biệt |
| Phỏng vấn sâu (PVS) |
18 người (11 cán bộ + 7 cha mẹ) |
Sở LĐTBXH, Quỹ Bảo trợ trẻ em, TTCTXH, cơ sở y tế và gia đình |
| Thảo luận nhóm (TLN) |
13 người (2 nhóm: 6 và 7 người) |
TTCTXH tỉnh Quảng Ninh và TTYT huyện Vân Đồn |
| Thực nghiệm can thiệp |
10 cha mẹ/người nuôi dưỡng |
TTCTXH tỉnh Quảng Ninh (thực nghiệm từ tháng 6-11/2018) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai trục nội dung: thực trạng rối loạn tâm thần ở trẻ em và dịch vụ công tác xã hội trợ giúp nhóm đối tượng này. Tác giả phân tích các nghiên cứu dịch tễ học quốc tế khẳng định tỷ lệ rối loạn tâm thần trẻ em dao động 10 - 20%, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nghèo đói (Jane D. McLeod, Michael J. Shanahan), trầm cảm của cha mẹ (Mark Olfson và cs) hoặc bạo lực gia đình (Betsy McAlister Groves). Về dịch vụ, các công trình quốc tế nhấn mạnh sự phát triển từ mô hình y tế thuần túy sang mô hình công tác xã hội toàn diện, đa ngành (Kimberly Hoagwood, Mary McKernan McKay).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung đo lường tỷ lệ rối nhiễu tâm trí học đường (Đặng Hoàng Minh, Lê Thị Ngọc Dung, Nguyễn Cao Minh, viện Mai Hương) và phân tích lâm sàng trẻ tự kỷ (Nguyễn Thị Hương Giang, Đào Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Mai Lan). Tác giả nhận định: phần lớn các nghiên cứu trong nước đi sâu vào khía cạnh y tế, giáo dục đặc biệt hoặc tâm lý lâm sàng; các nghiên cứu về hệ thống dịch vụ công tác xã hội còn dừng ở mức độ định hướng vĩ mô hoặc các hướng dẫn thực hành kỹ năng ngắn hạn. Chương 1 làm rõ khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về mô hình dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho trẻ em rối loạn tâm thần tại cấp độ địa phương và xác lập cơ sở để luận án giải quyết.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần
Chương 2 xây dựng khung khái niệm và hệ thống lý luận của đề tài. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi: công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội, sức khỏe tâm thần, rối loạn tâm thần, trẻ em và trẻ em rối loạn tâm thần. Luận án đưa ra định nghĩa thao tác: Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần là dịch vụ chuyên nghiệp do cơ sở y tế và trợ giúp xã hội cung cấp, ở đó cán bộ, nhân viên công tác xã hội sử dụng chuyên môn về sức khỏe tâm thần, tâm lý, xã hội nhằm nâng cao năng lực cho trẻ và gia đình, kết nối nguồn lực, thúc đẩy chính sách nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em rối loạn tâm thần.
Chương này phân tích sâu 4 nhóm dịch vụ công tác xã hội cơ bản:
- Dịch vụ sàng lọc, can thiệp sớm: Quy trình gồm 3 bước: tiếp nhận thông tin ban đầu; khám sàng lọc xác định vấn đề và đánh giá nhu cầu toàn diện (bằng các công cụ lâm sàng); xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp trợ giúp (trị liệu cá nhân 1,5 giờ/ngày/trẻ từ thứ Hai đến thứ Sáu; trị liệu nhóm 2 giờ/buổi vào Chủ nhật; chuyển giao kỹ thuật cho phụ huynh trị liệu tại nhà).
- Dịch vụ tham vấn, tư vấn cho gia đình: Hỗ trợ cha mẹ vượt qua các trạng thái khủng hoảng tâm lý (lo âu, chối bỏ, mặc cảm), hướng dẫn kiến thức và kỹ năng chăm sóc trẻ thông qua làm việc trực tiếp hoặc qua đường dây nóng (tổng đài 18001769).
- Dịch vụ kết nối, chuyển gửi, hỗ trợ chính sách: Kết nối trẻ và gia đình với các dịch vụ chuyên sâu, hỗ trợ tiếp cận các chính sách trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật.
- Dịch vụ truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo: Tổ chức các chiến dịch nâng cao hiểu biết cộng đồng nhằm giảm thiểu kỳ thị, mở các lớp tập huấn kỹ năng thực hành cho người nuôi dưỡng.
Chương 2 cũng phân tích nguyên nhân rối loạn tâm thần ở trẻ (sinh học, tâm lý cá nhân, môi trường xã hội), hệ thống thang đo chẩn đoán (Denver II, PEP-R, SDQ), 2 lý thuyết ứng dụng (thuyết Maslow và thuyết hệ thống), cùng 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ (chính sách pháp luật; đội ngũ nhân lực; đặc điểm rối loạn của trẻ; gia đình trẻ; cơ sở cung cấp dịch vụ).
Chương 3: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 trình bày các phát hiện thực chứng dựa trên kết quả điều tra 200 bảng hỏi, 18 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm tại Quảng Ninh. Tác giả mô tả khái quát bối cảnh tỉnh Quảng Ninh (diện tích 611.081,3 km², dân số trên 1,2 triệu người, 13 đơn vị hành chính cấp huyện, 177 xã/phường/thị trấn; số trẻ em từ 0-16 tuổi là 319.807 trẻ) và mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ (Trung tâm Công tác xã hội tỉnh, Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Sản nhi, Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn).
Thực trạng 4 dịch vụ công tác xã hội được lượng hóa chi tiết qua hệ thống 39 bảng số liệu và 11 biểu đồ:
- Dịch vụ sàng lọc, can thiệp sớm: Dù được đánh giá là rất cần thiết nhưng tỷ lệ thực hiện tại cộng đồng còn thấp; việc cha mẹ phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường còn chậm trễ do thiếu thông tin (phần lớn chỉ đưa đi khám khi trẻ xuất hiện các hành vi bất thường nghiêm trọng hoặc chậm nói kéo dài). Đội ngũ nhân viên y tế và công tác xã hội đã áp dụng một số công cụ đánh giá nhưng mức độ đồng bộ chưa cao.
- Dịch vụ tham vấn, tư vấn: Đa số cha mẹ trải qua các trạng thái cảm xúc tiêu cực trong tháng gần nhất khi chăm sóc con (căng thẳng, bất an, mệt mỏi) và có nhu cầu chia sẻ cao. Mức độ hài lòng của phụ huynh đối với hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin đạt mức khá, tuy nhiên tần suất tham vấn chuyên sâu định kỳ tại các cơ sở còn hạn chế.
- Dịch vụ kết nối, chuyển gửi, hỗ trợ chính sách: Việc tiếp cận chính sách bảo trợ xã hội cho trẻ em rối loạn tâm thần còn gặp khó khăn do thủ tục xác định mức độ khuyết tật tại cơ sở; sự liên thông, chuyển tuyến giữa cơ sở y tế và cơ sở bảo trợ xã hội chưa thành quy trình chuẩn.
- Dịch vụ truyền thông, đào tạo: Hoạt động truyền thông tại cộng đồng chưa thường xuyên; gia đình đánh giá rất cao sự cần thiết của các khóa đào tạo, tập huấn kỹ năng trị liệu tại nhà nhưng số lượng các lớp được tổ chức trong thực tế còn rất ít.
Phân tích 5 yếu tố ảnh hưởng chỉ ra: (1) Chính sách pháp luật chưa có quy định riêng biệt cho dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em; (2) Đội ngũ cán bộ, nhân viên còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn công tác xã hội chuyên sâu về tâm thần còn mỏng, áp lực công việc lớn, tình trạng phải làm thêm ngoài giờ phổ biến; (3) Mức độ phức tạp trong triệu chứng và chẩn đoán của trẻ gây khó khăn cho can thiệp; (4) Khả năng dành thời gian của cha mẹ (tỷ lệ phụ huynh duy trì được 60 - 120 phút mỗi ngày để dạy trẻ tại nhà còn hạn chế do áp lực kinh tế); (5) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng trị liệu tại các trung tâm còn thiếu thốn và cơ chế phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ.
Chương 4: Thực nghiệm hoạt động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng hướng dẫn trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần cho cha, mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần
Chương 4 mô tả quá trình thiết kế, triển khai và đánh giá mô hình thực nghiệm can thiệp trên nhóm 10 cha mẹ có con rối loạn tâm thần tại thành phố Hạ Long từ tháng 6 đến tháng 11/2018 tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ thực nghiệm xuất phát từ phát hiện ở Chương 3 về việc phụ huynh thiếu kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành can thiệp tại gia đình.
Nội dung thực nghiệm gồm 2 phần:
- Trang bị kiến thức: Tổ chức 2 đợt tập huấn lý thuyết (mỗi đợt 3 ngày) cung cấp kiến thức nền tảng về sức khỏe tâm thần, các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ em, nguyên nhân và các mốc phát triển tâm lý vận động.
- Rèn luyện kỹ năng: Tổ chức thực hành hướng dẫn kỹ năng can thiệp trực tiếp tại phòng trị liệu tâm lý của Trung tâm Công tác xã hội và hướng dẫn thiết lập kế hoạch hoạt động trị liệu tại nhà.
Kết quả thực nghiệm được kiểm chứng qua các bảng số liệu so sánh trước và sau tác động:
- Bảng 4.1 ghi nhận 100% người nuôi dưỡng có nhu cầu cấp thiết được đào tạo, trang bị kỹ năng.
- Bảng 4.2 và 4.3 đối chiếu mức độ hiểu biết kiến thức và kỹ năng thực hành xử lý tình huống can thiệp của 10 phụ huynh trước và sau can thiệp: điểm số hiểu biết về các triệu chứng lâm sàng và khả năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tổ chức bài tập hành vi cho trẻ đều có sự gia tăng rõ rệt sau thực nghiệm.
- Luận án phân tích chi tiết diễn biến của 02 ca thực nghiệm điển hình, chứng minh việc cha mẹ nắm vững kiến thức và kỹ năng đã giúp cải thiện đáng kể mức độ tương tác, giảm các hành vi tiêu cực và tăng cường khả năng hòa nhập của trẻ tại gia đình.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần trong bối cảnh Việt Nam.
- Làm rõ và bổ sung định nghĩa thao tác về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần; phân định rõ cấu trúc 4 dịch vụ cơ bản (sàng lọc - can thiệp sớm; tham vấn - tư vấn; kết nối - chuyển gửi - hỗ trợ chính sách; truyền thông - đào tạo).
- Vận dụng thuyết nhu cầu Maslow và thuyết hệ thống để làm sáng tỏ các mối quan hệ tác động qua lại giữa trẻ, gia đình, nhân viên công tác xã hội và môi trường chính sách; xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho can thiệp công tác xã hội chuyên ngành sức khỏe tâm thần trẻ em.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện đầu tiên về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh thông qua số liệu khảo sát 200 mẫu, phỏng vấn sâu 18 trường hợp và 2 cuộc thảo luận nhóm.
- Nhận diện và lượng hóa cụ thể 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cung cấp dịch vụ tại địa phương (chính sách, nhân lực, bản thân trẻ, gia đình và cơ sở vật chất/phối hợp liên ngành).
- Thiết kế, thử nghiệm và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp đào tạo, trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho cha mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần tại cộng đồng.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về chính sách, pháp luật: Hoàn thiện khung pháp lý về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe tâm thần; quy định rõ tiêu chuẩn, vị trí việc làm và chính sách đãi ngộ cho nhân viên công tác xã hội; cụ thể hóa tiêu chí xác định mức độ khuyết tật tâm thần ở trẻ em để tạo thuận lợi cho việc thụ hưởng chính sách an sinh.
- Về phát triển dịch vụ: Chuẩn hóa quy trình cung cấp 4 dịch vụ công tác xã hội cơ bản; thiết lập mạng lưới phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Y tế và ngành Giáo dục; mở rộng các văn phòng công tác xã hội cấp cơ sở.
- Về nâng cao năng lực đội ngũ và gia đình: Tăng cường đào tạo chuyên sâu về kỹ năng sàng lọc, lượng giá (sử dụng thành thạo Test Denver II, PEP-R, SDQ) cho cán bộ, nhân viên; định kỳ tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng can thiệp trị liệu tại nhà cho cha mẹ và người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Khảo sát thực trạng chỉ giới hạn tại một số cơ sở y tế, trung tâm trợ giúp xã hội và trường chuyên biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chưa bao quát được toàn bộ trẻ em rối loạn tâm thần ngoài cộng đồng hoặc vùng sâu, vùng xa, hải đảo của tỉnh.
- Cỡ mẫu điều tra bảng hỏi giới hạn ở 90 nhân viên cung cấp dịch vụ và 110 người chăm sóc; mô hình thực nghiệm can thiệp mới chỉ tiến hành trên nhóm nhỏ gồm 10 cha mẹ tại khu vực thành phố Hạ Long do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu.
- Các công cụ sàng lọc lâm sàng được phân tích dựa trên sự thích ứng tại các cơ sở hiện có, chưa xây dựng được một bộ công cụ đánh giá độc lập hoàn chỉnh dành riêng cho nhân viên công tác xã hội tại Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo cứu và so sánh mô hình dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại nhiều tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế - xã hội khác nhau trên toàn quốc.
- Triển khai nhân rộng mô hình thực nghiệm đào tạo kỹ năng cho cha mẹ với quy mô mẫu lớn hơn, có nhóm đối chứng và theo dõi đánh giá tác động dài hạn (từ 1 đến 3 năm) đối với sự tiến bộ của trẻ.
- Nghiên cứu sâu về quy trình quản lý trường hợp chuyên biệt đối với từng nhóm rối loạn tâm thần cụ thể ở trẻ em (như tự kỷ, tăng động giảm chú ý, trầm cảm vị thành niên).
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học, Giáo dục đặc biệt, Xã hội học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy và nghiên cứu về công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần và công tác xã hội với trẻ em. Phần cơ sở lý luận (Chương 2) và phương pháp luận nghiên cứu (Mở đầu) cung cấp khung phân tích hệ thống về các thang đo và khái niệm chuyên ngành.
- Cán bộ quản lý và người làm chính sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Y tế: Khảo cứu Chương 3 và phần Khuyến nghị để xây dựng chính sách trợ giúp xã hội, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn dịch vụ công tác xã hội lâm sàng và bố trí nguồn lực can thiệp sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng.
- Nhân viên công tác xã hội, chuyên viên tâm lý, y bác sĩ tại các bệnh viện, trung tâm công tác xã hội và cơ sở trợ giúp xã hội: Tham khảo quy trình 3 bước can thiệp sớm và các kỹ năng lượng giá, tham vấn cho gia đình (Chương 2 và Chương 3).
- Cha mẹ và người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần: Chương 4 cung cấp khung chương trình đào tạo và các bài tập tình huống thực hành hữu ích để trang bị kỹ năng chăm sóc, giáo dục và trị liệu tâm lý cho trẻ tại gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh theo số liệu được luận án dẫn chứng là bao nhiêu?
Theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh "Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rối nhiễu tâm trí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" do Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh triển khai được dẫn trong luận án, tỷ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ em trên địa bàn tỉnh là 10,1% trên tổng số 3.656 trẻ em được điều tra. Ngoài ra, số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2019 ghi nhận toàn tỉnh có 319.807 trẻ em trong độ tuổi từ 0 đến 16 tuổi.
2. Mẫu khảo sát định lượng và định tính của luận án được chọn như thế nào và bao gồm bao nhiêu đối tượng?
Luận án áp dụng công thức tính mẫu $n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$ với sai số tiêu chuẩn $e = 0{,}05$. Mẫu định lượng gồm 200 phiếu khảo sát:
- Nhóm cung cấp dịch vụ: Khảo sát 90 người trên tổng thể 116 cán bộ, nhân viên, bác sĩ thuộc các cơ sở bảo trợ xã hội, y tế và cán bộ phụ trách trẻ em 9 xã/phường.
- Nhóm gia đình: Khảo sát 110 người trên tổng thể 153 cha mẹ, người nuôi dưỡng có con đang trị liệu tại các cơ sở chuyên biệt.
Mẫu định tính gồm: Phỏng vấn sâu (PVS) 18 người (11 cán bộ, bác sĩ, nhân viên và 7 cha mẹ); Thảo luận nhóm (TLN) 13 người chia thành 2 nhóm (Trung tâm Công tác xã hội tỉnh: 6 người; Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn: 7 người).
3. Luận án phân loại và tập trung phân tích những nhóm dịch vụ công tác xã hội cơ bản nào?
Luận án tập trung phân tích 4 nhóm dịch vụ công tác xã hội cơ bản nhất đang được cung cấp:
- Dịch vụ sàng lọc, can thiệp sớm cho trẻ em rối loạn tâm thần.
- Dịch vụ tham vấn, tư vấn cho gia đình trẻ em rối loạn tâm thần.
- Dịch vụ kết nối, chuyển gửi, hỗ trợ chính sách.
- Dịch vụ truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo.
4. Những thang đo và công cụ sàng lọc nào được luận án giới thiệu để nhận diện và đánh giá rối loạn tâm thần ở trẻ em?
Văn bản phân tích các thang đo chính gồm:
- Test Denver II: Đánh giá sự phát triển tâm lý - vận động của trẻ nhỏ gồm 125 mục (tiêu chuẩn hóa tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2000 dựa trên Test Denver I gồm 105 mục).
- Thang PEP-R: Trắc nghiệm đánh giá tâm lý gồm 174 tiết mục (131 câu hỏi đánh giá 7 lĩnh vực phát triển và 43 tiết mục hành vi lâm sàng, lượng giá 4 dạng rối loạn: quan hệ, giác quan, ngôn ngữ, ý thích/vật liệu).
- Bộ câu hỏi sàng lọc sức khỏe tâm trí SDQ (Strength and Difficulties Questionnaire): Gồm 25 mục đo lường 5 khía cạnh (cảm xúc, hành vi, hiếu động, quan hệ đồng đẳng, quan hệ xã hội), tổng điểm từ 0 đến 40.
- Ngoài ra văn bản đề cập đến các công cụ khác như GARS-2, PSSI, GAD-7, PHQ-9.
5. Nội dung và quy mô của chương trình thực nghiệm ở Chương 4 được tiến hành như thế nào?
Chương trình thực nghiệm được triển khai từ tháng 6 đến tháng 11/2018 tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh trên nhóm khách thể gồm 10 cha mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần tại thành phố Hạ Long. Quy trình gồm 2 hợp phần: đào tạo lý thuyết về sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần (2 đợt, mỗi đợt 3 ngày) và thực hành rèn luyện kỹ năng hướng dẫn, trợ giúp trị liệu trực tiếp tại phòng can thiệp tâm lý. Kết quả được đánh giá thông qua so sánh bài tập tình huống trước - sau can thiệp và phân tích sâu 02 ca điển hình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Anh Hòa đã giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đặt ra thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực nghiệm dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát 200 mẫu bảng hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và can thiệp thực nghiệm trên 10 người chăm sóc, luận án đã làm rõ thực trạng vận hành của 4 nhóm dịch vụ công tác xã hội cơ bản và xác định 5 nhóm yếu tố chi phối hiệu quả cung cấp dịch vụ tại địa phương. Các kết quả nghiên cứu và mô hình can thiệp thực nghiệm chứng minh rằng việc trang bị kiến thức, kỹ năng bài bản cho cha mẹ là giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả hỗ trợ trẻ tại gia đình, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và phát triển mạng lưới công tác xã hội lâm sàng tại Việt Nam.