Chương 1: Hiện trạng phát triển các KCN tại khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng và vấn đề đặt ra. Chương này tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng các KCN tại khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trên các khía cạnh về quy mô phân bố, quy hoạch sử dụng đất, ô nhiễm môi trường sinh thái. + Chương 2: Cơ sở khoa học quy hoạch phát triển KCN tại khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng bền vững. + Chương 3: Giải pháp quy hoạch phát triển khu công nghiệp tại khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng sinh thái [33].
Ngoài ra tác giả Nguyễn Cao Lãnh còn có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: Nguyễn Cao Lãnh (2005) Khu công nghiệp sinh thái – Một mô hình cho phát triển bền vững ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội [32]. Tác giả đã tổng quan về khu công nghiệp sinh thái, theo tác giả KCN sinh thái chia làm 5 loại bao gồm: KCN sinh thái nông nghiệp, KCN sinh thái tái tạo tài nguyên, KCN sinh thái năng lượng tái sinh, KCN sinh thái nhà máy điện, KCNST lọc hóa dầu. Trần Thị Mỹ Diệu, Phan Thị Thu (2007) đã có đề tài khoa học Nghiên cứu đề xuất khung chính sách khuyến khích phát triển khu công nghiệp sinh thái tại Thành Phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận thuộc chương trình nghiên cứu Bảo vệ Môi trường, tài nguyên và biến đổi khí hậu do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện.
Đề tài đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá KCNST đối với KCN hiện hữu gồm 2 nhóm: Nhóm 1 hệ thống tiêu chí sàng lọc gồm 8 tiêu chí, đánh giá theo phương pháp loại dần, giúp lựa chọn những KCN đạt yêu cầu để xem xét, đánh giá và xếp hạng cấp độ đạt KCN sinh thái và nhóm 2 là hệ thống tiêu chí đánh giá và xếp hạng cấp độ đạt KCN sinh thái gồm 4 nhóm tiêu chí chính với 38 tiêu chí đánh giá, giúp xem xét một cách chi tiết, toàn diện những điểm đạt và chưa đạt đối với một công ty phát triển hạ tầng KCN và các cơ sở sản xuất trong KCN trước khi công nhận cấp độ đạt KCN sinh thái bao gồm: Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ - 14 - môi trường; Quy hoạch dòng vật chất và năng lượng hiệu quả; Xây dựng mạng lưới cộng sinh công nghiệp, Thiết kế thân thiện với môi trường [19]. Ngày 17/10/2014 tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng với tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã chính thức công bố khởi động dự án “ Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam” với tổng vốn đầu tư là 53. Dự án được thực hiện trong 36 tháng tại các tỉnh thành phố Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ. Những nghiên cứu phát triển KCN sinh thái đã đưa ra nhiều gợi ý bổ ích cho tác giả trong việc tìm hướng đi mới để quản lý KCN theo hướng bền vững về môi trường theo cách tiếp cận hiện đại.3 Các lý thuyết nền tảng làm cơ sở cho quản lý phát triển các KCN theo hướng bền vững.
Luận án được thực hiện dựa trên các trường phải lý thuyết sau: + Lý thuyết về chức năng quản lý nhà nước; + Lý thuyết về phát triển KCN; + Lý thuyết về Phát triển bền vững; 1.1 Lý thuyết về chức năng quản lý nhà nước. Thuyết quản lý hành chính là tên được đặt cho một nhóm các tư tưởng quản lý của một số tác giả ở Mỹ, Pháp, Anh, Đức nêu lên vào những thập kỉ đầu thế kỷ XX. Nhà tư tưởng chủ lực của thuyết này là Henry Fayol một nhà quản lý người Pháp, là người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại với tác phẩm "Quản lý công nghiệp và quản lý tổng quát" (Administration industrielle et générall, 1916), Henry Fayol định nghĩa: "Quản lý là sự dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Đó chính là năm chức năng cơ bản của nhà quản lý".
Henry Fayol là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý, đó cũng là 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý, bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Ông cho rằng quản lý hành chính liên quan đến cả 5 nhóm hoạt động trên và là sự tổng hợp bao trùm để tạo ra sức mạnh tổng hợp của một tổ chức. Thuyết quản lý của Fayol đã chỉ ra cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập (lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra), mang tính thống nhất đối với mọi loại hình tổ chức, không phân biệt mục tiêu, tính chất và quy mô của tổ chức ấy. Nó có ưu điểm là đi sâu nghiên cứu những công việc cần thiết của các nhà quản lý chuyên nghiệp, tạo ra kỷ cương, - 15 - song chưa chú trọng đầy đủ đến các mặt tâm lý và môi trường xã hội xung quanh và các ràng buộc nhà nước.
Quá trình quản lý của ông có vẻ cứng nhắc, chuẩn mực chứ không đa dạng như trên thực tế. Tuy vậy, sự đóng góp của ông cho khoa học quản lý vẫn rất độc đáo và giá trị. Ngoài ra còn phải kể tới Luther Gulick và Lyndal Urwick. Gulick sinh năm 1892, là nhà cải cách hành chính người Mỹ, ông quan niệm rằng hành chính vận hành theo những nguyên tắc hay quy định pháp luật, và công việc của các nhà khoa học hành chính là tìm ra những nguyên tắc đó với chi phí ít nhất về con người và tiền của.
Ông khái quát cô đọng chức trách của cán bộ quản lý hành chính bằng từ POSDCORB – cấu tạo bằng những ký tự đầu của các từ trong một nhóm. Từng từ có ý nghĩa cho một chức năng quan trọng của quản lý hành chính: - P (Planning): lập kế hoạch. - O (Organizing): công tác tổ chức. - S (Staffing): sắp xếp cán bộ là tuyển dụng, bố trí công việc, đào tạo theo nhóm đối tượng, và đảm bảo duy trì điều kiện làm việc thích ứng cho nhân viên.
- D (Directing): định hướng là ra các quyết định trong những chính sách chung hay trong những chỉ thị, hướng dẫn cụ thể, phục vụ cho công tác lãnh đạo tổ chức. - C (Coordinating): điều phối là liên kết, hợp tác các bộ phận thực hiện các mảng công việc của tổ chức. - R (Reporting): báo cáo là thông báo cho cấp trên và những cán bộ hữu quan về nội dung, tiến độ công việc; các cấp quản lý có thể nắm bắt thông tin qua hồ sơ lưu trữ, điều tra nghiên cứu và thanh kiểm tra. - B (Budgeting): lập ngân sách là kiểm soát các công việc của tổ chức thông qua kế hoạch tài chính và công tác kế toán.
POSDCORB miêu tả các hoạt động quản lý phổ biến chung cho tất cả các tổ chức. Được gọi là kinh điển là vì những nội dung này tạo nên nền tảng đối với bất kỳ tổ chức hành chính nào. Harold Koontz và thuyết quản lý tổng hợp: Harold Koontz và các đồng nghiệp cho rằng quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Với tư cách là một khoa học, quản lý cần phải được tiếp cận một cách có hệ thống nhưng với tư cách là một nghệ thuật, việc thực hành quản lý lại đòi hỏi phải tiếp cận theo tình huống hoặc điều kiện hiện có.
Trên cơ sở tổng hợp và kế thừa các nhà tư tưởng quản lý, Harold Koontz và các cộng sự đã khái quát và đưa ra 5 chức năng của quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo, kiểm tra. - 16 - Lý thuyết về chức năng quản lý nhà nước là nền tảng khoa học cho NCS tiếp cận các chức năng quản lý nhà nước bao gồm: Chức năng định hướng: Nhà nước định hướng thông qua kế hoạch, quy hoạch, chính sách. Chức năng tổ chức: Nhà nước sắp xếp, tổ chức hoạt động trong phạm vi quản lý của mình. Chức năng điều tiết: Nhà nước điều tiết các quan hệ và phân phối các nguồn lực, chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô.
Chức năng kiểm tra, giám sát: Chức năng này đảm bảo cho các hoạt động chịu sự kiểm tra, giám sát của nhà nước đi đúng hướng, đạt được các mục tiêu đề ra.2 Lý thuyết về Phát triển công nghiệp Lý thuyết cụm công nghiệp Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và chính phủ trên thế giới đang sử dụng ngày càng nhiều các mô hình cụm công nghiệp nhằm tìm kiếm các lợi thế cạnh tranh bên ngoài để hỗ trợ công nghiệp vùng và địa phương trong phát triển kinh tế. Được phát triển bởi M. Porter (1990), lý thuyết cụm công nghiệp được sử dụng một cách phổ biến trong việc hoạch định các chính sách công cộng và kinh tế. Trong mô hình kim cương của Porter, bốn yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh công nghiệp được kết hợp một cách sáng tạo để gia tăng tính cạnh tranh cho sự định hình công nghiệp, bao gồm: các điều kiện nhà máy; nhu cầu trong nước; các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp liên quan; chiến lược công nghiệp, cơ cấu và khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia hay một vùng dựa trên khả năng của nền công nghiệp. Cụm công nghiệp được phân biệt theo 4 yếu tố: (1) Sự giới hạn về địa lý; (2) Số lượng các ngành công nghiệp; (3) Mối liên hệ; (4) Lợi thế cạnh tranh. Quá trình phát triển cụm công nghiệp rất dài và có thể chẳng bao giờ dừng. Một cụm công nghiệp được xem là có lợi thế so sánh nếu sản phẩm, năng suất và tốc độ tăng trưởng cao hơn các cụm khác.
Việc sử dụng khái niệm cụm công nghiệp như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển kinh tế ở cấp độ vùng, và sự ảnh hưởng của khái niệm này trên phương thức định dạng và chuyển giao chính sách vùng. Khi khái niệm cụm công nghiệp trở nên phổ biến thì cách tiếp cận cụm ngày càng được đa dạng hóa. Bằng chứng là các chính sách khuyến khích các mạng lưới kinh doanh theo cụm nhỏ, nguồn lực hạn chế mà không có sự tập trung vào một lĩnh vực đặc biệt nào đến các chương trình phức tạp, cỡ lớn có sự phối hợp và hướng đích cho một ngành công nghiệp cụ thể ở một vùng nhất định.