Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Sức khỏe liên quan mật thiết đến sự phát triển của con người, sức khỏe tốt tạo điều kiện cho con người phát triển thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trí nhớ, sức chú ý, sự cần cù, độ dẻo dai trong học tập phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái chung của sức khỏe và thể lực.
Tại Úc, chất lượng trường MN được quản lý rất chặt chẽ, trước hết là việc CS, ND trẻ để trẻ luôn khỏe mạnh, an toàn và phát triển tốt về thể chất. Vấn đề quản lý chất lượng chăm sóc sức khỏe, CSGD trẻ MN cũng rất được quan tâm nhưng chủ yếu hướng vào việc hình thành bản lĩnh, tính tự lập, cách ứng xử xã hội và phát triển những tiềm năng cá nhân của trẻ. Tại Mỹ, việc giáo dục trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc cơ bản được thực hiện thông qua nền giáo dục công. Hầu hết trẻ em ở Mỹ đi học trong các cơ sở giáo dục công lập ở tuổi lên 5-6 tuổi.
Nước Mỹ không có các chương trình nhà trẻ và mẫu giáo quốc gia có tính chất bắt buộc, mà ở mỗi bang xây dựng chương trình GDMN riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính cho chương trình “Head Start” - chương trình nhà trẻ và mẫu giáo dành cho các gia đình có thu nhập thấp. Còn hầu hết các gia đình tự tìm trường và trả chi phí nhà trẻ và mẫu giáo cho con cái mình. Ở những thành phố lớn, đôi khi có những nhà trẻ và trường mẫu giáo phục vụ nhu cầu của các gia đình có thu nhập cao, tùy sự lựa chọn của phụ huynh mà chọn trường cho trẻ.
[31] 7 Drirence Chatoor dựa trên 25 năm nghiên cứu, điều trị, đã giúp cho mọi người hiểu, xác định khó khăn đặc thù của trẻ: bé không biết đói? Bé ghét thức ăn? Bé không biết no? Hay vì bé sợ ăn? Qua cuốn sách “Bé yêu học ăn” tác giả đưa ra các phương pháp khoa học, vừa dễ áp dụng giúp trẻ ăn tốt mà còn giúp người lớn xây dựng một môi trường ăn uống cho trẻ khoa học.[17] Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những người trực tiếp tham gia các hoạt động CS, ND, khám chữa bệnh cho trẻ đã chỉ rõ những vấn đề cần quan tâm quản lý các hoạt động CS, ND trẻ một cách có hiệu quả và đây cũng chính là những gợi mở cho chúng tôi tiếp cận nghiên cứu vấn đề: Quản lý hoạt động CS, ND trẻ tại các trường MN trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định hiện nay. Nghiên cứu ở trong nước Cuốn sách “Vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm” do Hoàng Tích Minh và Hà Huy Khôi biên soạn xuất bản năm 1977 là cuốn sách đầu tiên về lĩnh vực dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm. Cuốn sách đã cập nhật các kiến thức đương thời về lĩnh vực khoa học này, đặc biệt các ông đã chú ý tham khảo các tài liệu mới của Tổ chức Y tế Thế giới về “Tiêu chuẩn dinh dưỡng” và “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng”.[24] Theo nghiên cứu của tác giả Tào Thị Hồng Vân về hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ: Thể chất trẻ em Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã được cải thiện rõ ràng, tuy nhiên cân nặng và chiều cao trẻ em nước ta còn kém xa so với chỉ số tổ chức y tế thế giới đưa ra vào năm 1980.[37] Về sức khỏe tâm thần: Trẻ em Việt Nam gia tăng về chiều cao, cân nặng, tuổi dậy thì cũng đến sớm hơn trẻ em cùng lứa tuổi ở thập kỷ trước. Trong xã hội hiện tại trẻ em đã tăng cả về tâm sinh lý, tuổi trưởng thành về sinh lý và sự phong phú về phương diện tâm lý có xu hướng sớm lên trong khi sự trưởng thành về mặt xã hội.
8 Về sức khỏe xã hội: những nghiên cứu có tính hệ thống để làm rõ khái niệm sức khỏe xã hội và đánh giá thực trạng sức khỏe xã hội của trẻ em Việt Nam còn thiếu, tuy nhiên, qua ý kiến của một số nhà nghiên cứu có thể đưa ra nhận định sơ bộ là trẻ em Việt Nam còn chưa được quan tâm rèn luyện đầy đủ về sức khỏe xã hội, do đó khả năng hòa nhập cộng đồng, tính tự chủ, lòng tự tin và khả năng tập hợp, chỉ huy cộng đồng còn hạn chế. Về tình hình bệnh tật và tử vong: Trong thập kỷ cuối thế kỷ 20 và đầu thập kỷ 21, bệnh tật của trẻ em nước ta vẫn mang đặc điểm bệnh tật của trẻ em của các nước đang phát triển, đặc điểm chủ yếu của mô hình bệnh tật các bệnh nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ đáng cao. Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội khoa công nghệ đã nghiên cứu sản phẩm “Hệ thống quản lý dinh dưỡng cho các trường mầm non và tiểu học”. Đây là công cụ hỗ trợ cho công tác đảm bảo dinh dưỡng trong các trường, nó không chỉ đưa ra được các thông số về dinh dưỡng cho thực đơn hàng ngày của các trường, làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dinh dưỡng của bữa ăn, mà còn là một công cụ hữu ích cho người quản lý trong việc sắp xếp thực đơn trong các trường mầm non, tiểu học.
[21] Hiện nay, theo các tài liệu nghiên cứu ở cấp Quốc gia có nhiều công trình, giải pháp cải tiến công tác quản lý chỉ đạo, đáp ứng việc nâng cao chất lượng GDMN được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau như: Cẩm nang một số vấn đề chăm sóc giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường cho trẻ MN, năm 2005 Vụ GDMN đã đưa ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ và biện pháp khắc phục; đề tài “Tiếp tục đổi mới công tác quản lý nâng cao chất lượng CSGD trẻ” của tác giả Lê Minh Hà (2011) [19], và đề tài “Chương trình CS, GDMN về những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm. Tóm lại, qua tổng hợp các công trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy: Trên cơ sở luận giải những cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu, các tác giả đề xuất những biện pháp CS, ND, giáo dục trẻ ở những cơ sở GDMN trên những địa bàn nghiên cứu cụ thể theo tên đề tài nghiên cứu, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CS, ND, giáo dục trẻ. Nhìn chung các công trình, các đề tài nghiên cứu còn chưa đi sâu vào quản lý hoạt động CS, ND trẻ và chưa có đề tài nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, hệ thống về biện pháp quản lý hoạt động CS, ND trẻ ở các trường MN thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định. Do vậy, tác giả chọn vấn đề này để nghiên cứu là có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với GDMN ở địa phương nơi tác giả công tác.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động.
Có nhiều quan điểm về quản lý: 10 Theo F.Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học”, một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất”.[18] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cũng bàn nhiều về khái niệm quản lý. Trong giáo trình Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, tác giả cho rằng: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.[20] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đó”.[3] Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.[23] Hiện nay, quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng), kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nhấn mạnh khía cạnh quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành 11 và đạt được mục đích của tổ chức”.[4] Như vậy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích nhất định phù hợp với yêu cầu, quy định của xã hội.
Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để đối tượng quản lý luôn phấn đấu đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho xã hội. Quản lý giáo dục Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, xuất hiện từ khi con người được sinh ra. Bởi trong quá trình lao động, con người tích lũy kinh nghiệm và truyền cho thế hệ sau. Ban đầu là tự phát sau dần trở thành tự giác, có ý thức, có mục đích và có chương trình.