Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học hoàn thiện pháp luật của việt nam về chăm sóc thay thế nhìn từ nhu cầu đáp ứng hỗ trợ trẻ em bị mồ côi do ảnh hưởng của đại dịch covid19

Chuyên khảo luật học phân tích Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học hoàn thiện pháp luật của việt nam về chăm sóc thay thế nhìn từ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Chuyên ngành

Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu

2022

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CSTT VÀ PHÁP LUẬT VỀ CSTT

1.1. Khái niệm, đặc điểm của CSTT

1.2. Lịch sử hình thành, khái quát cách hoạt động

1.3. Ý tưởng về mô hình CSTT (Foster-care)

1.4. Pháp luật về mô hình CSTT

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CSTT ĐỐI VỚI TEMC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Khái quát chung về thực hiện CSTT ở Việt Nam hiện nay

2.2. Tính phù hợp của mô hình CSTT tại Việt Nam

2.3. Thực trạng các mô hình bao trợ trẻ em hiện nay ở Việt Nam

2.4. Những đặc điểm của Việt Nam phù hợp với mô hình CSTT

2.5. Một số khó khăn thực hiện CSTT tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM VỀ MÔ HÌNH CSTT ĐỐI VỚI TEMC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

3.1. Khái quát chung pháp luật về mô hình CSTT TEMC tại Việt Nam

3.2. Cơ sở pháp lý của mô hình nuôi dưỡng TEMC

3.3. Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc pháp luật về CSTT

3.4. Quy định của pháp luật hiện hành về CSTT

3.5. Các yêu cầu đối với việc thực hiện CSTT

3.5.1. Điều kiện trẻ em được CSTT

3.5.2. Điều kiện về nhân thân để CSTT

3.5.3. Điều kiện về khả năng của người CSTT

3.6. Trách nhiệm và quyền của các bên

3.6.1. Trách nhiệm và quyền của cá nhân, gia đình nhận CSTT

3.6.2. Trách nhiệm và quyền của cơ quan có thẩm quyền

3.6.3. Trách nhiệm và quyền của TEMC được nhận CSTT

3.7. Chấm dứt CSTT

3.7.1. Các trường hợp chấm dứt CSTT

3.7.2. Thủ tục chấm dứt CSTT

3.8. Thực tiễn thi hành pháp luật về CSTT

3.8.1. Kết quả đã đạt được trên thực tế

3.8.2. Những bất cập còn tồn tại

3.9. Nguyên nhân của những bất cập

3.9.1. Về văn hóa, xã hội

3.9.2. Về điều kiện kinh tế

3.9.3. Về thể chế, pháp luật

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CSTT VÀ PHÁP LUẬT VỀ CSTT ĐỐI VỚI TEMC TẠI VIỆT NAM

4.1. Sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành liên quan đến CSTT

4.2. Về hiệu quả thi hành pháp luật

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi

Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi do COVID-19 là một chủ đề quan trọng. Đại dịch đã làm gia tăng số lượng trẻ em mồ côi, đặt ra thách thức lớn cho hệ thống pháp luật hiện hành. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em mồ côi là cần thiết để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho các em.

1.1. Khái niệm và vai trò của chăm sóc thay thế

Chăm sóc thay thế là hình thức nuôi dưỡng trẻ em không có cha mẹ. Vai trò của nó rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

1.2. Tình hình trẻ em mồ côi do COVID 19 tại Việt Nam

Theo thống kê, số lượng trẻ em mồ côi do COVID-19 đã tăng lên đáng kể. Năm 2021, có hơn 2.000 trẻ em không nơi nương tựa, điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về chính sách hỗ trợ.

II. Vấn đề và thách thức trong chăm sóc trẻ mồ côi do COVID 19

Việc chăm sóc trẻ mồ côi do COVID-19 gặp nhiều thách thức. Hệ thống pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Nhiều cơ sở chăm sóc không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và an toàn cho trẻ em.

2.1. Những khó khăn trong việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Chính sách bảo vệ trẻ em hiện tại còn nhiều bất cập. Thiếu nguồn lực và sự quan tâm từ xã hội là những vấn đề lớn cần giải quyết.

2.2. Tác động tiêu cực của COVID 19 đến trẻ em

Đại dịch đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tâm lý và sức khỏe của trẻ em. Nhiều em phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn về vật chất và tinh thần.

III. Phương pháp và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chăm sóc trẻ mồ côi

Để hoàn thiện pháp luật về chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Việc xây dựng các chính sách cụ thể và hiệu quả là rất cần thiết.

3.1. Nghiên cứu và phân tích các mô hình chăm sóc trẻ em

Cần nghiên cứu các mô hình chăm sóc trẻ em thành công ở các nước khác để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Mô hình Foster Care là một ví dụ điển hình.

3.2. Đề xuất các chính sách hỗ trợ trẻ em mồ côi

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho trẻ em mồ côi, bao gồm cả hỗ trợ tài chính và tâm lý. Điều này sẽ giúp trẻ em có cơ hội phát triển tốt hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chăm sóc trẻ mồ côi

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc chăm sóc trẻ mồ côi cần được cải thiện. Các mô hình chăm sóc hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ em. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội.

4.1. Thực trạng các cơ sở chăm sóc trẻ em

Nhiều cơ sở chăm sóc trẻ em hiện nay còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và nhân lực. Cần có sự đầu tư và cải cách để nâng cao chất lượng chăm sóc.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ trẻ em

Các chương trình hỗ trợ trẻ em mồ côi đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả của các chương trình này.

V. Kết luận và tương lai của chăm sóc trẻ mồ côi tại Việt Nam

Việc hoàn thiện pháp luật về chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi là một nhiệm vụ cấp bách. Tương lai của trẻ em mồ côi phụ thuộc vào sự quan tâm và hành động của toàn xã hội. Cần có những bước đi cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em

Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần nâng cao nhận thức và hành động để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em mồ côi.

5.2. Định hướng phát triển mô hình chăm sóc trẻ em trong tương lai

Cần phát triển các mô hình chăm sóc trẻ em phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Điều này sẽ giúp trẻ em có cơ hội phát triển tốt hơn trong môi trường gia đình.

21/02/2025
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học hoàn thiện pháp luật của việt nam về chăm sóc thay thế nhìn từ nhu cầu đáp ứng hỗ trợ trẻ em bị mồ côi do ảnh hưởng của đại dịch covid19

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. KHÁI LUẬN CHUNG VE CSTT VÀ PHÁP LUẬT VE CSTT. Khái luận chung về CSTT. Khái niệm, đặc điểm của CSTT.

Lịch sứ hình thành, khai quát cách hoạt động. Ý tưởng về mô hình CSTT (Foster-care) đã xuất hiện vào khoảng những năm 1392- 1490 tại Nhật Bản nhưng phải đến những năm 1895 mới được đưa vào thực hién.> Mô hình CSTT xuất hiện và được triển khai vào những năm 1890. Cụ thể qua sự kiện The Orphan Train Movement (Phong trào Chuyến tàu m6 côi) tại Mỹ, mô hình CSTT đã được di vào hoạt động. Mô hình CSTT được ra đời do động lực muốn loại bỏ các trại trẻ mô côi tập trung vì mục đích trẻ em không nên bị tước đoạt cuộc sống gia đình.

Mô hình này được nêu lần đầu tiên trong Hội nghị Nhà Trắng về Trẻ em do Tổng thống Theodore Roosevelt của Mỹ lúc đó triệu tập. Hội nghị cho rằng, trẻ em nên được song, chăm sóc, nuôi dưỡng ở trong mô hình CSTT hơn là ở trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung. Theo pháp luật Việt Nam CSTT bao gồm bốn hình thức là (i) CSTT bởi người thân thích; (ii) CSTT bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích; (iii) CSTT băng hình thức nhận con nuôi theo quy định pháp luật về nuôi con nuôi; (iv) CSTT tại cơ sở trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, phạm vi bài nghiên cứu hướng đến mô hình Foster-care - mô hình chỉ có hình thức CS TT bởi người thân thích và CS TT bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích.

Vậy nên, trong toàn bộ bài nghiên cứu, cụm từ “CSTT” sẽ chỉ tiếp cận tới hai hình thức nay dé đảm bảo đúng với định nghĩa mô hình Foster-care. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn có mối quan tâm đặc biệt đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói chung và TEMC nói riêng. Học hỏi kinh nghiêm triển khai mô hình CSTT ở các nước trên thế giới và để có chính sách đặc thù với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngày 25/3/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa 5 Kumasaka, Y, and H Aiba (1986), Foster Care in Japan: Past and Present, The Milbank Memorial Fund Quarterly, p. Điêu 61 Luật Trẻ em 2016.

8 vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010, gọi tắt là Đề án 65. Đề án 65 được coi là bước đi đầu tiên trong việc đưa mô hình CSTT ap dụng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Ngày 26/4/2013, tiếp nối thực hiện Đề án 65, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 647/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 647 và được triển khai tại tỉnh một số tỉnh thành. Năm 2017, Bộ LDTBXH đã phối hợp với Tổ chức Care for Children tổ chức Hội nghị Triển khai Dự án Thí điểm mô hình CSTT cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và dễ bị tổn thương tại các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Đà Nẵng.

Pháp luật về mô hình CSTT cũng được quy định cụ thể hơn trong Luật Trẻ em 2016, Nghị định SỐ 56/2017/NĐ-CP và Thông tư 14/2020/TT-BLDTBXH, tuy nhiên mô hình này trên thực tiễn vẫn chưa được thực thi rộng rãi trên toàn quốc. Khải niệm “chăm sóc thay thé”: Theo Tổ chức thuộc Chính phủ Child Welfare của Cục Trẻ em Bộ Y tế và Dịch vụ con người Hoa Kỳ nêu định nghĩa về mô hình như sau: “CSTT (còn được biết đến là chăm sóc ngoài gia đình) là một dich vụ tạm thời được Nhà nước cung cấp dành cho trẻ em không có diéu kiện sống cùng gia đình của mình. Trẻ em được CSTT có thé song cùng người thân thích hoặc những người CSTT không có cùng huyết thông”. Bên cạnh đó, Tổ chức U.

Fostering thuộc chính quyên địa phương tại nhiều thành phố của nước Anh đưa ra khái niệm: “CSTT là một hình thức cung cấp cho tré em va tre vi thành niên một mái nhà trong trường hợp gia đình các em không thé nuôi dưỡng và cham sóc chúng”.Š Pháp luật Việt Nam thông qua Luật Trẻ em năm 2016 lần đầu đưa ra định nghĩa về CSTT tại khoản 3 Điều 4 là: “Việc tô chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ de; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo dam sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Theo nhóm nghiên cứu, CSTT là một loại hình phúc lợi xã hội nhăm đem đến môi trường chăm sóc tại một gia đình thay thế cho những trẻ em đang tạm thời hay vĩnh viễn bị 7 Child Welfare Information Gateway, U. Department of Health & Human Services, <https://www. gov/topics/outofhome/foster-care/>.

8 What is foster care, U. Fostering, truy cap 14/01/2022, <https://ukfostering.uk/fostering-information-3/what-is-foster- care/>. 9 mat đi nguồn nuôi đưỡng từ gia đình ruột. CSTT theo phạm vi nghiên cứu ở đây là hình thức gửi chăm sóc có tô chức cho TEMC trong các gia đình đã được lựa chọn, đánh giá, tập huấn.

Gia đình CSTT là gia đình tự nguyện tham gia nhận chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em trong môi trường gia đình trong khoảng thời gian khi trẻ không có người thân thích dé chăm sóc. Khoảng thời gian của CSTT rất đa dạng, có thé một vài ngày, vài tháng hoặc kéo dài nhiều năm. Với đề tài nghiên cứu về mô hình CSTT, nhóm nghiên cứu giới hạn việc nghiên cứu mô hình CSTT trong phạm vi là hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc từ người có cùng huyết thống nhận nuôi hoặc người không cùng huyết thống nhận nuôi đối với TEMC. Đặc điểm của CSTT.

Thứ nhất, chăm sóc, nuôi dưỡng theo mô hình CSTT là một thỏa thuận có thời han. TEMC được chăm sóc tạm thời bởi những người CSTT được đào tạo, đánh giá và công nhận theo quy định đã có. Thời hạn chăm sóc này phụ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân của đứa trẻ và gia đình nhận nuôi dưỡng. Với cá nhân TEMC khi được nhận nuôi theo mô hình này, trẻ được sinh sống trong một gia đình và được đón nhận day đủ tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc của cha, mẹ nuôi, các thành viên trong gia đình nuôi dưỡng.

Tuy nhiên, với người CSTT của mô hình có thời hạn nay lại là một thử thách đối với họ vì sẽ rất khó khăn dé họ có thé thoải mái chia tay đứa trẻ khi họ đã cùng gắn bó với nhau trong một khoảng thời gian.” Day cũng chính là một rào cản với những cá nhân có nhu cầu nhận nuôi dưỡng theo mô hình này. Thứ hai, mô hình CSTT là mô hình chăm sóc theo cơ sở gia đình. Cụ thể, TEMC và người CSTT sau khi được đánh giá, xác định về sự phù hợp sẽ được ghép cặp đề sông với nhau như gia đình trong một khoảng thời gian có thời hạn. Trong khoảng thời gian TEMC được nhận CSTT, người CSTT đảm nhận trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ trong một môi trường gia đình phải đảm bảo sự an toàn.TS Phạm Mạnh Hà, Trường Đại học Giáo dục — Đại học Quốc gia Hà Nội, việc có một gia đình hạnh phúc là nhân tô quan trọng trong sự phát triên của cả trẻ và cha, mẹ.

Vậy nên, nuôi dưỡng truyên ? Jennifer Grimes-Vawters (2016), Identifying Future Effective Foster Parent Characteristics: Using the Casey Foster Family Assessment, Walden dissertations and Doctoral studies, Walden University, p. 10 thống gia đình là cách tốt nhất để trẻ em trở thành người thành công, tự tin, có tầm nhìn rộng mở. Thứ ba, người CSTT không chịu trách nhiệm pháp lý với trẻ được nhận cham sóc, nuôi dưỡng. Người CSTT chịu trách nhiệm cung cấp chỗ ở, chăm sóc trẻ và được cơ quan Nhà nước hỗ trợ dé chi trả các khoản phí khi chăm sóc trẻ.

Người CSTT có quyền đưa ra các quyết định thông thường liên quan đến lợi ích của trẻ nhưng không có toàn quyền giám sát dé đưa ra quyết định về những van đề về chăm sóc y tế, các quyết định về cuộc sống như hôn nhân. Các cơ quan có thâm quyền sẽ luôn đưa ra các hướng dẫn, quyết định cho trẻ trong suốt khoảng thời gian trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng thay thé. Vai tro cua CSTT. Thứ nhất, vai trò đối với TEMC được nhận CSTT.

Trẻ em sinh ra đều có quyền được sống trong gia đình, được yêu thương và được cha mẹ chăm sóc. Do đó, mô hình CSTT được thiết kế dé mang đến cho TEMC một môi trường sống an toàn, lành mạnh, 6n định và được sống trong tình yêu thương của mái 4m gia đình. Vì trẻ được chăm sóc bởi người CS TT đã được chọn lọc, đánh gia theo một quy chuẩn nghiêm ngặt và được giám sát bởi chính quyền địa phương nên trẻ được sống trong môi trường an toàn hơn khi sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Khi được CSTT trong môi trường gia đình, trẻ em được quan tâm nhiều hơn trong mọi mặt của đời sống, cụ thể như về giáo dục, trẻ em được đảm bảo giáo dục từ trường học, từ các mối quan hệ con người xung quanh và được giáo dục từ chính người CSTTT và các thành viên trong gia đình nuôi dưỡng của mình.

Thứ hai, vai trò đối với người CSTT, Việc nuôi dưỡng, chăm sóc một trẻ khác có thê không phải là người cùng huyết thống nhưng đối với người CSTT không có khả năng tự sinh con thì mô hình CSTT là giải pháp thay thế, hỗ trợ cho chính người chăm sóc. Có thể thấy nhu cầu được có một người con đề yêu thương, nuôi dưỡng đối với những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con là một nhu cầu lớn. CSTT không ràng buộc về trách nhiệm pháp lý đối với người CSTT, cho nên cũng có nhiều người nuôi đưỡng cảm thấy cởi mở hơn với mô hình này. Từ đó, sẽ giải quyêt được cả vân đê ai nhận trẻ chăm sóc và người muôn chăm sóc sẽ nhận ai.

11 Thứ ba, vai trò đối với kinh tế - xã hội của đất nước. Thực tế cho thấy, khi trẻ được lớn lên trong môi trường tốt, phần trăm cao trẻ sẽ thành công trong tương lai. Mỗi trẻ em là một nhân tố giúp đất nước đi lên va môi trường song của trẻ em cũng quyết định phan nao thành công trong tương lai của trẻ. Khi trẻ trưởng thành trong tương lai, trẻ sẽ đóng góp giá trị kinh tế cho bản thân và đất nước.

Đối với quy mô kinh phí của mô hình CSTT được nhận thấy là có kinh phí duy trì thấp hơn kinh phí để duy trì các co sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng hàng trăm trẻ em. !

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi do COVID-19 là một tài liệu quan trọng, tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến chăm sóc thay thế cho trẻ em mồ côi do đại dịch COVID-19. Tài liệu này không chỉ làm rõ những khoảng trống pháp lý hiện tại mà còn đưa ra các khuyến nghị cụ thể để bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ em trong bối cảnh đặc biệt này. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, luật sư, và những người quan tâm đến lĩnh vực bảo vệ trẻ em.

Để hiểu sâu hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đăng ký kết hôn thực tiễn tại uỷ ban nhân dân phường thanh vinh thị xã phú thọ tỉnh phú thọ, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hiểm thai sản và thực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn la cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp mở rộng kiến thức về các chính sách bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến thời hiệu khởi kiện, một khía cạnh quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.