Chương I. KHÁI LUẬN CHUNG VE CSTT VÀ PHÁP LUẬT VE CSTT. Khái luận chung về CSTT. Khái niệm, đặc điểm của CSTT.
Lịch sứ hình thành, khai quát cách hoạt động. Ý tưởng về mô hình CSTT (Foster-care) đã xuất hiện vào khoảng những năm 1392- 1490 tại Nhật Bản nhưng phải đến những năm 1895 mới được đưa vào thực hién.> Mô hình CSTT xuất hiện và được triển khai vào những năm 1890. Cụ thể qua sự kiện The Orphan Train Movement (Phong trào Chuyến tàu m6 côi) tại Mỹ, mô hình CSTT đã được di vào hoạt động. Mô hình CSTT được ra đời do động lực muốn loại bỏ các trại trẻ mô côi tập trung vì mục đích trẻ em không nên bị tước đoạt cuộc sống gia đình.
Mô hình này được nêu lần đầu tiên trong Hội nghị Nhà Trắng về Trẻ em do Tổng thống Theodore Roosevelt của Mỹ lúc đó triệu tập. Hội nghị cho rằng, trẻ em nên được song, chăm sóc, nuôi dưỡng ở trong mô hình CSTT hơn là ở trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung. Theo pháp luật Việt Nam CSTT bao gồm bốn hình thức là (i) CSTT bởi người thân thích; (ii) CSTT bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích; (iii) CSTT băng hình thức nhận con nuôi theo quy định pháp luật về nuôi con nuôi; (iv) CSTT tại cơ sở trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, phạm vi bài nghiên cứu hướng đến mô hình Foster-care - mô hình chỉ có hình thức CS TT bởi người thân thích và CS TT bởi cá nhân, gia đình không phải là người thân thích.
Vậy nên, trong toàn bộ bài nghiên cứu, cụm từ “CSTT” sẽ chỉ tiếp cận tới hai hình thức nay dé đảm bảo đúng với định nghĩa mô hình Foster-care. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn có mối quan tâm đặc biệt đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói chung và TEMC nói riêng. Học hỏi kinh nghiêm triển khai mô hình CSTT ở các nước trên thế giới và để có chính sách đặc thù với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngày 25/3/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa 5 Kumasaka, Y, and H Aiba (1986), Foster Care in Japan: Past and Present, The Milbank Memorial Fund Quarterly, p. Điêu 61 Luật Trẻ em 2016.
8 vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010, gọi tắt là Đề án 65. Đề án 65 được coi là bước đi đầu tiên trong việc đưa mô hình CSTT ap dụng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Ngày 26/4/2013, tiếp nối thực hiện Đề án 65, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 647/QĐ-TTg phê duyệt Đề án 647 và được triển khai tại tỉnh một số tỉnh thành. Năm 2017, Bộ LDTBXH đã phối hợp với Tổ chức Care for Children tổ chức Hội nghị Triển khai Dự án Thí điểm mô hình CSTT cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và dễ bị tổn thương tại các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Đà Nẵng.
Pháp luật về mô hình CSTT cũng được quy định cụ thể hơn trong Luật Trẻ em 2016, Nghị định SỐ 56/2017/NĐ-CP và Thông tư 14/2020/TT-BLDTBXH, tuy nhiên mô hình này trên thực tiễn vẫn chưa được thực thi rộng rãi trên toàn quốc. Khải niệm “chăm sóc thay thé”: Theo Tổ chức thuộc Chính phủ Child Welfare của Cục Trẻ em Bộ Y tế và Dịch vụ con người Hoa Kỳ nêu định nghĩa về mô hình như sau: “CSTT (còn được biết đến là chăm sóc ngoài gia đình) là một dich vụ tạm thời được Nhà nước cung cấp dành cho trẻ em không có diéu kiện sống cùng gia đình của mình. Trẻ em được CSTT có thé song cùng người thân thích hoặc những người CSTT không có cùng huyết thông”. Bên cạnh đó, Tổ chức U.
Fostering thuộc chính quyên địa phương tại nhiều thành phố của nước Anh đưa ra khái niệm: “CSTT là một hình thức cung cấp cho tré em va tre vi thành niên một mái nhà trong trường hợp gia đình các em không thé nuôi dưỡng và cham sóc chúng”.Š Pháp luật Việt Nam thông qua Luật Trẻ em năm 2016 lần đầu đưa ra định nghĩa về CSTT tại khoản 3 Điều 4 là: “Việc tô chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ de; trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang nhằm bảo dam sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Theo nhóm nghiên cứu, CSTT là một loại hình phúc lợi xã hội nhăm đem đến môi trường chăm sóc tại một gia đình thay thế cho những trẻ em đang tạm thời hay vĩnh viễn bị 7 Child Welfare Information Gateway, U. Department of Health & Human Services, <https://www. gov/topics/outofhome/foster-care/>.
8 What is foster care, U. Fostering, truy cap 14/01/2022, <https://ukfostering.uk/fostering-information-3/what-is-foster- care/>. 9 mat đi nguồn nuôi đưỡng từ gia đình ruột. CSTT theo phạm vi nghiên cứu ở đây là hình thức gửi chăm sóc có tô chức cho TEMC trong các gia đình đã được lựa chọn, đánh giá, tập huấn.
Gia đình CSTT là gia đình tự nguyện tham gia nhận chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em trong môi trường gia đình trong khoảng thời gian khi trẻ không có người thân thích dé chăm sóc. Khoảng thời gian của CSTT rất đa dạng, có thé một vài ngày, vài tháng hoặc kéo dài nhiều năm. Với đề tài nghiên cứu về mô hình CSTT, nhóm nghiên cứu giới hạn việc nghiên cứu mô hình CSTT trong phạm vi là hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc từ người có cùng huyết thống nhận nuôi hoặc người không cùng huyết thống nhận nuôi đối với TEMC. Đặc điểm của CSTT.
Thứ nhất, chăm sóc, nuôi dưỡng theo mô hình CSTT là một thỏa thuận có thời han. TEMC được chăm sóc tạm thời bởi những người CSTT được đào tạo, đánh giá và công nhận theo quy định đã có. Thời hạn chăm sóc này phụ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân của đứa trẻ và gia đình nhận nuôi dưỡng. Với cá nhân TEMC khi được nhận nuôi theo mô hình này, trẻ được sinh sống trong một gia đình và được đón nhận day đủ tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc của cha, mẹ nuôi, các thành viên trong gia đình nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, với người CSTT của mô hình có thời hạn nay lại là một thử thách đối với họ vì sẽ rất khó khăn dé họ có thé thoải mái chia tay đứa trẻ khi họ đã cùng gắn bó với nhau trong một khoảng thời gian.” Day cũng chính là một rào cản với những cá nhân có nhu cầu nhận nuôi dưỡng theo mô hình này. Thứ hai, mô hình CSTT là mô hình chăm sóc theo cơ sở gia đình. Cụ thể, TEMC và người CSTT sau khi được đánh giá, xác định về sự phù hợp sẽ được ghép cặp đề sông với nhau như gia đình trong một khoảng thời gian có thời hạn. Trong khoảng thời gian TEMC được nhận CSTT, người CSTT đảm nhận trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ trong một môi trường gia đình phải đảm bảo sự an toàn.TS Phạm Mạnh Hà, Trường Đại học Giáo dục — Đại học Quốc gia Hà Nội, việc có một gia đình hạnh phúc là nhân tô quan trọng trong sự phát triên của cả trẻ và cha, mẹ.
Vậy nên, nuôi dưỡng truyên ? Jennifer Grimes-Vawters (2016), Identifying Future Effective Foster Parent Characteristics: Using the Casey Foster Family Assessment, Walden dissertations and Doctoral studies, Walden University, p. 10 thống gia đình là cách tốt nhất để trẻ em trở thành người thành công, tự tin, có tầm nhìn rộng mở. Thứ ba, người CSTT không chịu trách nhiệm pháp lý với trẻ được nhận cham sóc, nuôi dưỡng. Người CSTT chịu trách nhiệm cung cấp chỗ ở, chăm sóc trẻ và được cơ quan Nhà nước hỗ trợ dé chi trả các khoản phí khi chăm sóc trẻ.
Người CSTT có quyền đưa ra các quyết định thông thường liên quan đến lợi ích của trẻ nhưng không có toàn quyền giám sát dé đưa ra quyết định về những van đề về chăm sóc y tế, các quyết định về cuộc sống như hôn nhân. Các cơ quan có thâm quyền sẽ luôn đưa ra các hướng dẫn, quyết định cho trẻ trong suốt khoảng thời gian trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng thay thé. Vai tro cua CSTT. Thứ nhất, vai trò đối với TEMC được nhận CSTT.
Trẻ em sinh ra đều có quyền được sống trong gia đình, được yêu thương và được cha mẹ chăm sóc. Do đó, mô hình CSTT được thiết kế dé mang đến cho TEMC một môi trường sống an toàn, lành mạnh, 6n định và được sống trong tình yêu thương của mái 4m gia đình. Vì trẻ được chăm sóc bởi người CS TT đã được chọn lọc, đánh gia theo một quy chuẩn nghiêm ngặt và được giám sát bởi chính quyền địa phương nên trẻ được sống trong môi trường an toàn hơn khi sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Khi được CSTT trong môi trường gia đình, trẻ em được quan tâm nhiều hơn trong mọi mặt của đời sống, cụ thể như về giáo dục, trẻ em được đảm bảo giáo dục từ trường học, từ các mối quan hệ con người xung quanh và được giáo dục từ chính người CSTTT và các thành viên trong gia đình nuôi dưỡng của mình.
Thứ hai, vai trò đối với người CSTT, Việc nuôi dưỡng, chăm sóc một trẻ khác có thê không phải là người cùng huyết thống nhưng đối với người CSTT không có khả năng tự sinh con thì mô hình CSTT là giải pháp thay thế, hỗ trợ cho chính người chăm sóc. Có thể thấy nhu cầu được có một người con đề yêu thương, nuôi dưỡng đối với những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con là một nhu cầu lớn. CSTT không ràng buộc về trách nhiệm pháp lý đối với người CSTT, cho nên cũng có nhiều người nuôi đưỡng cảm thấy cởi mở hơn với mô hình này. Từ đó, sẽ giải quyêt được cả vân đê ai nhận trẻ chăm sóc và người muôn chăm sóc sẽ nhận ai.
11 Thứ ba, vai trò đối với kinh tế - xã hội của đất nước. Thực tế cho thấy, khi trẻ được lớn lên trong môi trường tốt, phần trăm cao trẻ sẽ thành công trong tương lai. Mỗi trẻ em là một nhân tố giúp đất nước đi lên va môi trường song của trẻ em cũng quyết định phan nao thành công trong tương lai của trẻ. Khi trẻ trưởng thành trong tương lai, trẻ sẽ đóng góp giá trị kinh tế cho bản thân và đất nước.
Đối với quy mô kinh phí của mô hình CSTT được nhận thấy là có kinh phí duy trì thấp hơn kinh phí để duy trì các co sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng hàng trăm trẻ em. !