ĐẶT VẤN ĐỀ Răng sữa ở trẻ quan trọng không kém hàm răng vĩnh viễn, khi răng sữa khỏe mạnh sẽ giúp cho trẻ ăn nhai, nói chuyện, dinh dƣỡng tốt hơn. Cấu tạo răng sữa cơ bản giống các răng vĩnh viễn, tuy nhiên hệ thống men ngà chƣa thật hoàn thiện, vì vậy nếu không có chế độ vệ sinh răng thật tốt rất dễ gây nên bệnh lý sâu răng-biến chứng ảnh hƣởng tới sức khỏe của trẻ, tiền và thời gian chăm sóc của ngƣời nuôi dƣỡng. Ở hàm răng trẻ em dƣới mỗi răng sữa đều có một mầm răng vĩnh viễn, những mầm răng này sẽ lần lƣợt thay thế răng sữa từ khi trẻ lên 6 đến khoảng 12- 13 tuổi. Răng vĩnh viễn sẽ bị ảnh hƣởng rất nhiều nếu nhƣ các răng sữa bị sâu và viêm nhiễm.
Sâu răng trẻ em có thể do rất nhiều nguyên nhân, nhƣng một trong những nguyên nhân hàng đầu gây sâu răng sớm ở trẻ em là do chế độ nuôi dƣỡng và những thói quen có hại trong sinh hoạt, đặc biệt là nhận thức của bà mẹ trong việc hình thành những thói quen có lợi cho sức khỏe răng miệng của trẻ. Theo Ngân hàng dữ liệu sức khỏe răng miệng toàn cầu của WHO có khoảng 60-90% trẻ em tuổi đến trƣờng và đa số ngƣời trƣởng thành từng mắc bệnh sâu răng. Tỷ lệ trẻ mắc sâu răng là tƣơng đối cao ở Châu Mỹ, Châu Âu, và tỷ lệ thấp là trẻ ở vùng Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dƣơng [40]. Thống kê của tổ chức Unicef về tỷ lệ bệnh tật của học sinh tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh răng miệng khá cao, chiếm 17,41% ở trẻ mầm non; 35,14 % ở học sinh tiểu học [24].
Tại Thái Bình, nghiên cứu của tác giả Phí Văn Toại (năm 2013) ở 2 trƣờng mầm non huyện Đông Hƣng cho thấy tỷ lệ sâu răng chung là 53,2%; trong đó nữ là 56,0%; nam là 54,0%. Tỷ lệ sâu răng cao nhất ở trẻ 5 tuổi chiếm 62,9% và thấp nhất ở trẻ 3 tuổi chiếm 41,3% [19]. Hiện nay vấn đề sâu răng là một thách thức cho cộng đồng đặc biệt là răng sữa. Sâu răng sữa là một dạng sâu răng đặc biệt, tiến triển nhanh và có tác động lâu dài lên răng.
Trẻ em bị sâu răng nhƣ trẻ sơ sinh hoặc trẻ em ở lứa tuổi mầm luan an 2 non sẽ có nguy cơ nhiều về sâu răng tiếp theo ở cả răng chính và răng vĩnh viễn. Hậu quả của sâu răng sữa có thể ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống ngay lập tức hoặc lâu dài của trẻ cũng nhƣ gia đình trẻ, cả về kinh tế cũng nhƣ xã hội [31]. Phòng bệnh răng miệng là quá trình đơn giản, không phức tạp, không đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, chi phí thấp, dễ thực hiện tại cộng đồng, đặc biệt là ở đối tƣợng trẻ em. Đặc biệt trẻ em trong lứa tuổi mầm non đã bắt đầu hình thành nhân cách, có những nhận thức cơ bản về thế giới xung quanh và có thể hình thành những thói quen chăm sóc bản thân.
Và hầu hết toàn bộ thời gian những năm đầu đời của trẻ dƣới 5 tuổi là ở bên cha mẹ, kể cả khi trẻ đã đi học mẫu giáo. Trong những năm này các thói quen của trẻ sẽ dần đƣợc hình thành và phần lớn các thói quen của trẻ trong đó có thói quen ăn uống và vệ sinh răng miệng là chịu ảnh hƣởng từ kiến thức, thái độ và hành vi của cha mẹ, đặc biệt là các bà mẹ là ngƣời tiếp xúc và trực tiếp chăm sóc trẻ. Kiến thức, kĩ năng của bà mẹ càng tốt thì trẻ càng có hành vi đúng. Chính vì vậy để đánh giá, kiến thức, hành vi của bà mẹ về chăm sóc sức khỏe răng miệng của trẻ chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành về phòng bệnh sâu răng của bà mẹ có con đang học tại 2 trƣờng mầm non thành phố Thái Bình năm 2019” với mục tiêu sau: 1.
Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh răng miệng của bà mẹ có con học tại 2 trường mầm non thành phố Thái Bình. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh răng miệng của bà mẹ có con học tại 2 trường mầm non thành phố Thái Bình. luan an 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về sâu răng ở trẻ em 1.
Bệnh sâu răng 1. Một số thuật ngữ về sâu răng Bệnh sâu răng là một quá trình bệnh lý mà thực chất là sự phân hủy chất khoáng của răng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng làm mất đi cấu trúc vẹn toàn của răng do hình thành lỗ sâu không có khả năng phục hồi và phải điều trị. Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thƣơng sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thƣơng trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng. Sâu răng sữa là một bệnh gây tổn thƣơng mất mô cứng của răng do quá trình hủy khoáng gây ra bởi vi khuẩn ở mảng bám răng [1].
Sâu răng sớm ở trẻ là tình trạng xuất hiện một hoặc nhiều tổn thƣơng sâu răng (có thể đã hình thành lỗ hoặc chƣa), mất răng (do sâu), mặt răng đã đƣợc hàn (do sâu) trên bất kỳ răng sữa nào ở trẻ 71 tháng tuổi hoặc nhỏ hơn. Sâu răng lan nhanh-đa sâu răng (Rampant caries) là một dạng đa sâu răng nặng có thể ảnh hƣởng đến bộ răng sữa hoặc răng vĩnh viễn, xuất hiện đột ngột, lan rộng xuất hiện ở các mặt răng và rất nhanh tổn thƣơng tủy, các răng hàm thƣờng tổn nhất. Răng hàm sữa thứ nhất thƣờng ít bị sâu răng hơn so với răng hàm sữa thứ hai, răng hàm dƣới dễ sâu hơn răng hàm trên [20]. Sâu răng do bú bình (baby bottle tooth decay) là dạng sâu răng đầu tiên ở trẻ do nuôi dƣỡng, bắt đầu trƣớc 20 tháng tuổi.
Sâu răng do bú bình là tình trạng sâu răng do nuôi dƣỡng đƣa đến dạng sâu răng lan nhanh kết hợp với việc sử dụng không đúng cách bình sữa hoặc bú mẹ kéo dài. Cũng có thể xem luan an 4 đó là một dạng sâu răng lan nhanh do bú bình với chất ngọt lúc ngủ cộng với tình trạng nhiễm S. Một số nguyên nhân của bệnh sâu răng sữa Do các men của vi khuẩn ở mảng bám răng tác động lên các thức ăn có nguồn gốc Gluxit còn dính lại ở bề mặt răng, chuyến hóa thành axit. Khi môi trƣờng có pH<5 thì gây ra tổn thƣơng hủy khoáng làm mất mô cứng của răng và gây ra sâu răng.
Chủng vi khuẩn có khả năng gây sâu răng cao nhất trong nghiên cứu thực nghiệm là Streptococus mutans. Một số chủng vi khuẩn khác nhƣ Actinomyces, Lactobacillus…cũng đƣợc xác định có khả năng gây ra sâu răng. Một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng sâu răng: - Men răng: Men răng thiểu sản hay men răng kém khoáng hóa dễ bị hủy khoáng hơn và ảnh hƣởng đến tiến triển của tổn thƣơng sâu răng. - Hình thể răng: Các răng có hố rãnh sâu có nguy cơ sâu răng cao do sự tập trung của mảng bám răng và khó làm sạch mảng bám răng.
Có một tỷ lệ cao các trƣờng hợp sâu răng đƣợc bắt đầu từ hố rãnh tự nhiên của các răng. Ngoài ra một số bất thƣờng về hình dạng răng nhƣ răng sinh đôi, răng dính, núm phụ…cũng làm tăng nguy cơ gây sâu răng. - Vị trí răng: Răng lệch lạc, chen chúc làm tăng khả năng lƣu giữ mảng bám vì thế dễ bị sâu răng hơn. - Nƣớc bọt: Dòng chảy và tốc độ chảy của nƣớc bọt là yếu tố làm sạch tự nhiên để loại bỏ các mạnh vụn thức ăn còn sót lại.
Tạo một lớp màng mỏng trên bề mặt của răng từ nƣớc bọt có vai trò nhƣ một rào bảo vệ men răng khỏi pH nguy cơ. Ngoài ra nƣớc bọt còn có vai trò đệm làm giảm độ toan của môi trƣờng quanh răng và có tác dụng đề kháng với sâu răng. Nƣớc bọt còn là nguồn cung cấp các chất khoáng, hỗ trợ quá trình tái khoáng để có thể phục luan an 5 hồi các tổn thƣơng sâu răng sớm. Nƣớc bọt cũng là môi trƣờng hoạt động của các vi khuẩn trong miệng, nƣớc bọt tiết càng nhiều càng giảm sâu răng (trung bình một ngày nƣớc bọt tiết ra 1500cc, khi ngủ lƣợng nƣớc bọt tiết ra giảm đồng thời việc chải rửa vi khuẩn và chất carbonhydrat ở mức tối thiểu, vì vậy sâu răng tăng trong nghi ngờ).
Tính chất nƣớc bọt lỏng hay quánh cũng ảnh hƣởng đến bệnh sâu răng, nƣớc bọt càng quánh thì sâu răng càng cao. Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Ngô Thị Quỳnh Lan về nguy cơ sâu răng của trẻ tại quận Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trung bình pH nƣớc bọt không kích thích ở nhóm sâu răng thấp là 7,31±0,476 cao hơn so với nhóm sâu răng cao là 6,86±0,65; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Khi so sánh phân bố các mức pH nƣớc bọt không kích thích giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao thì tỷ lệ học sinh có pH thấp trong nhóm sâu răng cao là 11% trong khi nhóm học sinh sâu răng thấp pH là 1,6% [3]. - Chế độ ăn nhiều đƣờng, thói quen ăn uống trƣớc khi đi ngủ hay bú bình kéo dài đều làm tăng nguy cơ sâu răng.
- Vệ sinh răng miệng đóng vai trò quan trọng nhất các yếu tố nguy cơ gây sâu răng, là yếu tố làm sạch cơ học làm giảm hoặc mất các tác động gây sâu răng của các yếu tố gây sâu răng khác. Một số biện pháp dự phòng bệnh răng miệng Nguy cơ sâu răng có thể thay đổi theo thời gian, và dựa vào nguyên nhân có thể làm giảm tổn thƣơng răng. Nếu bị sâu răng hoặc sâu răng đã biến chứng thì chữa răng sẽ làm tăng chi phí kinh tế, thời gian và có thể gây mất răng. Dự phòng sâu răng là một trong những biện pháp làm giảm gánh nặng vi sinh, tăng sức đề kháng của răng, đặc biệt là trẻ em.
Dựa vào nguyên nhân gây bệnh và cơ chế gây bệnh sâu răng có một số biện pháp dự phòng là: 1.