ĐẶT VẤN ĐỀ Tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đặc biệt quan tâm, xem đây là một vấn đề quan trọng của sức khoẻ cộng đồng ở mọi Quốc gia trên thế giới [1]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhấn mạnh rằng mối quan tâm này không chỉ đối với các nƣớc công nghiệp phát triển mà còn đối với các quốc gia đang ở trong thời kỳ chuyển tiếp về kinh tế xã hội, nơi diễn ra sự thay đổi nhanh chóng về chế độ dinh dƣỡng và lối sống [2]. Biểu hiện dễ thấy nhất của rối loạn chuyển hoá lipid máu là tình trạng béo phì, bởi vì béo phì là tình trạng tích trữ lipid cơ thể vƣợt quá mức bình thƣờng [3]. Các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ mắc rối loạn chuyển hóa lipid gồm: khẩu phần ăn dƣ thừa chất béo, chất bột, đƣờng, đồ ngọt, các thói quen nhƣ ăn nhiều cơm, ăn nhiều vào bữa tối.; thói quen hút thuốc lá và lạm dụng bia, rƣợu; chế độ hoạt động thể lực ít, làm việc tĩnh tại là những yếu tố đan xen làm tăng nguy cơ mắc rối loạn chuyển hóa Lipid Theo số liệu tổng điều tra dân số Việt Nam, tỉ lệ ngƣời trên 60 tuổi đã tăng từ 7,1% (1979) đến 8,1% (1999) và lên 8,62% năm 2002 trong tổng dân số.
Trong đó ngƣời cao tuổi ở nông thôn chiếm 77,8% ngƣời cao tuổi cả nƣớc và cao gấp 3,5 lần ngƣời cao tuổi ở thành thị [4]. Tuổi già là một quá trình sinh lý bình thƣờng của con ngƣời. Tuổi già có mối quan hệ mật thiết đến các vấn đề về sức khỏe cũng nhƣ tình trạng bệnh lý. Cho đến thời điểm hiện tại, phần lớn gánh nặng về bệnh tật ở ngƣời cao tuổi liên quan đến các bệnh mạn tính không lây bao gồm: bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thiếu máu, mất trí nhớ, các bệnh do rối loạn chuyển hóa nhƣ: đái tháo đƣờng, rối loạn chuyển hóa lipid máu [5].
Thái Bình hiện có 274.382 ngƣời cao tuổi, chiếm 15,1% dân số.853 hội viên ngƣời cao tuổi đang sinh hoạt tại 2.052 chi hội thuộc 2 286, Hội ngƣời cao tuổi cơ sở. Số ngƣời cao tuổi từ 60 đến 79 tuổi có 222.503 ngƣời từ 80 đến đủ 100 tuổi và 588 ngƣời trên 100 tuổi [6]. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu, chủ yếu ở các bệnh viện và viện nghiên cứu, có rất ít nghiên cứu ở cộng đồng, đặc biệt là đối với ngƣời cao tuổi. Nghiên cứu về tình trạng dinh dƣỡng lipid ở ngƣời cao tuổi tại Thái Bình sẽ cung cấp các thông tin quan trọng nhằm nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng, góp phần xây dựng chiến lƣợc dự phòng thích hợp đối với việc phòng chống các bệnh mạn tính không lây tại cộng đồng.
Trên cơ sở đó xây dựng những giải pháp can thiệp nhƣ truyền thông giáo dục dinh dƣỡng, hoạt động thể lực, quản lý sức khỏe, xây dựng khẩu phần ăn hợp lý nhằm cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu cho ngƣời cao tuổi vẫn còn chƣa nhiều. Để có các dẫn liệu làm cơ sở xây dựng các giải pháp can thiệp giảm tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid máu, phòng chống các bệnh do rối loạn chuyển hóa lipid máu, nâng cao sức khỏe cho ngƣời cao tuổi ở nông thôn Thái Bình, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả của truyền thông tích cực, can thiệp chế độ ăn cải thiện tình trạng rối loạn chu n h a lipid máu ở người cao tuổi tại nông thôn, tỉnh Thái Bình” với hai mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại nông thôn Thái Bình năm 2016. Đánh giá hiệu quả biện pháp truyền thông tích cực, can thiệp chế độ ăn cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu ở người cao tuổi ở nông thôn Thái Bình.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến ngƣời cao tuổi Khái niệm ngƣời cao tuổi Theo quy ƣớc của Liên Hiệp Quốc coi ngƣời già là những ngƣời từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính và chia làm 2 nhóm tuổi: Từ 60 - 74 là ngƣời cao tuổi và từ 75 tuổi trở lên là ngƣời già. Còn Tổ chức Y tế thế giới chia thành 3 lứa tuổi rõ hơn: Từ 60 - 74 tuổi là ngƣời cao tuổi, từ 75 - 90 tuổi là ngƣời già và trên 90 tuổi là ngƣời già sống lâu [7]. Tại Việt Nam, Điều I của Pháp lệnh Ngƣời cao tuổi do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành ngày 28 tháng 4 năm 2000 cũng đã nêu rõ: “Ngƣời cao tuổi theo quy định của Pháp lệnh này là công dân nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [8].
Pháp lệnh Ngƣời Cao tuổi đã quy định các cơ sở xã phƣờng có trách nhiệm theo dõi, quản lí trực tiếp chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho ngƣời cao tuổi sống trên địa bàn. Nghị định 120/2003/NĐ-CP quy định ngƣời từ 90 tuổi trở lên mới đƣợc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí [8]. Thay đổi sinh lý và các vấn đề sức khỏe của ngƣời cao tuổi Ở ngƣời cao tuổi, các hoạt động chuyển hóa và dinh dƣỡng có nhiều biến đổi. Khái niệm ngƣời già thƣờng gắn với suy yếu.
Khả năng thụ cảm của NCT bị giảm, mắt nhìn k m, tai nghe k m, mũi ngửi k m, vị giác và xúc giác không nhạy cảm ảnh hƣởng đến ngon miệng? Răng bị rụng, cơ bị teo. gây trở ngại khi cắn khi nhai. Ăn uống khó tiêu. Nhu động ruột giảm, hoạt động của gan thận đều yếu dần đi.
Trọng lƣợng gan chỉ còn 65%, chức năng chuyển hóa giải độc giảm đi. Đơn vị thận cũng giảm đi chỉ còn 1/3 đến 1/2 so với khi sinh. Tất cả đều ảnh hƣởng đến sự tiêu hóa hấp thụ thức ăn. Ở hệ tim mạch, xơ vữa động mạch làm giảm đƣờng kính lòng mạch, giảm cung cấp 4 máu đến các nơi gây thiểu năng tuần hoàn não.
Đƣờng kính lòng mạch giảm cũng làm tăng sức cản của dòng máu gây tăng huyết áp, tim phải hoạt động tăng sức bóp. Mao mạch giảm trao đổi oxy, các van tĩnh mạch suy giảm dẫn đến ứ máu ở chi, ph. Hoạt động của hệ thần kinh suy giảm khả năng tự điều chỉnh, thích nghi,. Tuổi già, là quá trình sinh lý bình thƣờng của con ngƣời, nhƣng có nguy cơ xuất hiện và phát triển bệnh, đặc biệt là sự phát triển của các bệnh mãn tính, tình trạng thoái hoá - kết quả của quá trình lão hoá.
Trong khi tuổi già là không thể tránh đƣợc thì các nguy cơ bệnh tật và mức độ phụ thuộc của ngƣời cao tuổi có thể dự phòng hoặc giảm thiểu đƣợc. Với những nỗ lực chung của toàn thế giới, ngày nay ngƣời cao tuổi không chỉ sống lâu hơn mà còn sống khỏe mạnh hơn so với trƣớc đây. Tuy nhiên do các đặc điểm sinh lý, ngƣời cao tuổi vẫn là đối tƣợng dễ mắc bệnh và có nhiều vấn đề sức khỏe hơn so với các lứa tuổi khác, chủ yếu là các rối loạn chức năng mạn tính [5], [10]. Ngƣời cao tuổi không gặp nhiều bệnh tật cấp tính nhƣ ở trẻ em và ngƣời lớn nhƣng lại có nhiều bệnh lý mạn tính và các rối loạn chức năng hơn.
Các bệnh lý mạn tính thƣờng gặp ở ngƣời cao tuổi là các bệnh về tăng huyết áp, bệnh tim mạch, các bệnh vê chuyển hóa nhƣ đái tháo đƣơng, rối loạn chuyển hóa lipid máu,bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đột quỵ, ung thƣ, xƣơng khớp, m loà và thính lực [5], [11], [12]. Khả năng hồi phục của ngƣời cao tuổi rất k m do thể lực suy sụp, khi bị nặng thƣờng là đợt cấp của bệnh mạn tính vì vậy sau khi điều trị tích cực, cần điều trị duy trì kết hợp với chăm sóc nâng cao thể lực, điều dƣỡng phục hồi chức năng ph hợp cho từng đối tƣợng. Lipid máu và rối loạn chuyển hóa lipid máu Khái niệm Lipid máu Lipid là tiền thân của một số hormon và acid mật, là chất truyền tín hiệu ngoại bào và nội bào [13]. Lipid chính có mặt trong huyết tƣơng là acid 5 béo tự do, triglycerid, cholesterol và phospholipid, lipid không tan trong nƣớc nên đƣợc vận chuyển trong máu dƣới dạng kết hợp với các protein.
Các acid b o đƣợc vận chuyển chủ yếu bởi albumin, còn các lipid khác đƣợc lƣu hành trong máu dƣới dạng các phức hợp lipoprotein. Các loại thành phần chính của lipid máu bao gồm Cholesterol toàn phần Cholesterol là một chất béo steroid, mềm, màu vàng nhạt, là thành phần cấu trúc của màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể. Cholesterol đóng vai trò trung tâm trong nhiều quá trình sinh hoá, nhƣng lại đƣợc biết đến nhiều nhất do liên hệ đến bệnh tim mạch gây ra bởi nồng độ cholesterol trong máu tăng. Cholesterol có từ hai nguồn: do cơ thể tổng hợp và từ thức ăn.
Nguồn từ cơ thể (tổng hợp từ gan và các cơ quan khác) chiếm khoảng 75% tổng số lƣợng cholestrol trong máu, còn lại từ nguồn thức ăn. Triglycerides Triglyceride là thành phần chủ yếu của các lipoprotein trọng lƣợng phân tử thấp và các chylomicron, nó đóng một vai trò quan trọng nhƣ là nguồn cung cấp năng lƣợng và chuyên chở các chất béo trong quá trình trao đổi chất. Tăng triglycerides thƣờng gặp ở những ngƣời béo phì/thừa cân, lƣời vận động, hút thuốc lá, đái tháo đƣờng, uống quá nhiều rƣợu. Những ngƣời có triglycerides trong máu tăng cao thƣờng đi kèm tăng cholesterol toàn phần, bao gồm tăng LDL và giảm HDL.
Hiện nay, các nhà khoa học cho thấy việc tăng triglyceride trong máu cũng có thể liên quan đến các biến cố tim mạch. LDL - lipoprotein tỷ trọng thấp LDL có tỷ trọng 1.006-1063, LDL chứa nhiều cholesterol, chức năng chính là vận chuyển phần lớn cholesterol từ máu tới các mô để sử dụng [13]. Khi lƣợng LDL này tăng nhiều trong máu dẫn đến sự dễ dàng lắng đọng ở thành mạch máu (đặc biệt ở tim và ở não) và gây nên mảng xơ vữa động 6 mạch. Mảng xơ vữa này đƣợc hình thành dần dần gây hẹp hoặc tắc mạch máu hoặc có thể vỡ ra đột ngột gây tắc cấp mạch máu dẫn đến những bệnh nguy hiểm nhƣ nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
LDL cholesterol đƣợc coi là một trong những chỉ số quan trọng cần theo dõi khi điều trị rối loạn lipid máu.