Luận án tiến sĩ dinh dưỡng: Hiệu quả bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai tại Viện Dinh dưỡng

Bổ sung thực phẩm giúp tăng cường vi chất dinh dưỡng thiết yếu cho phụ nữ có thai. Tìm hiểu các sản phẩm hiệu quả, công dụng và hướng dẫn sử dụng an toàn.

Trường đại học

Viện Dinh Dưỡng

Chuyên ngành

Dinh dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

172
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai

Phụ nữ có thai là đối tượng dễ bị thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi. Thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm và thiếu acid folic là những vấn đề phổ biến ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam. Những thiếu hụt này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. Cân nặng sơ sinh thấp là một trong những hệ quả đáng lo ngại. Suy dinh dưỡng bào thai cũng thường xuyên xảy ra. Ngoài ra, trẻ sinh ra từ mẹ thiếu vi chất có nguy cơ chậm phát triển tâm vận động. Giai đoạn từ khi sinh đến 6 tháng tuổi là thời kỳ quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển não bộ. Việc can thiệp dinh dưỡng đúng cách trong thai kỳ sẽ cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe của cả mẹ và con. Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của thực phẩm tăng cường vi chất.

1.1. Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng trong thai kỳ

Vi chất dinh dưỡng đóng vai trò thiết yếu trong quá trình mang thai. Sắt giúp ngăn ngừa thiếu máu và đảm bảo oxy cho thai nhi. Acid folic giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh ở trẻ. Kẽm tham gia vào quá trình tổng hợp protein và phân chia tế bào. Canxi và vitamin D cần thiết cho sự phát triển hệ xương của thai nhi. Thiếu hụt các vi chất này gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Bổ sung đầy đủ vi chất là yếu tố then chốt cho một thai kỳ khỏe mạnh.

1.2. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ có thai vẫn ở mức cao. Nghiên cứu tại huyện Hoài Đức, Hà Nội cho thấy nhiều thai phụ bị thiếu máu và thiếu kẽm. Chế độ ăn không đa dạng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Nhiều phụ nữ không nhận thức đầy đủ về nhu cầu vi chất trong thai kỳ. Dịch vụ chăm sóc dinh dưỡng tại tuyến y tế cơ sở còn hạn chế. Đây là thực trạng cần được can thiệp kịp thời bằng các chương trình bổ sung vi chất có hiệu quả.

II. Phân tích hậu quả thiếu vi chất dinh dưỡng thai kỳ

Thiếu vi chất dinh dưỡng trong thai kỳ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho cả mẹ và trẻ. Đối với mẹ, tình trạng thiếu máu làm tăng nguy cơ biến chứng sản khoa. Thiếu sắt dẫn đến mệt mỏi, suy nhược và giảm khả năng lao động. Đối với trẻ, hậu quả còn kéo dài hơn. Cân nặng sơ sinh thấp là hệ quả trực tiếp của suy dinh dưỡng bào thai. Trẻ nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng cao hơn trong những tháng đầu đời. Phát triển tâm vận động của trẻ cũng bị ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu tại Guatemala và Philippines cho thấy trẻ suy dinh dưỡng thấp còi khi 2 tuổi đi học muộn hơn. Tỷ lệ bỏ học hoặc lưu ban ở nhóm trẻ này cao hơn. Thành tích học tập kém hơn so với trẻ phát triển bình thường. Những hậu quả này kéo dài suốt vòng đời của trẻ, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

2.1. Ảnh hưởng đến cân nặng sơ sinh và phát triển thể chất

Cân nặng sơ sinh là chỉ số quan trọng đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Thai nhi bị thiếu vi chất dinh dưỡng thường có cân nặng thấp hơn bình thường. Suy dinh dưỡng bào thai khiến trẻ sinh ra nhẹ cân, ngắn chiều dài. Chu vi vòng đầu cũng nhỏ hơn so với tiêu chuẩn. Những trẻ này có nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng cao hơn. Hệ miễn dịch kém phát triển khiến trẻ dễ ốm đau. Chăm sóc đặc biệt cần được thực hiện trong những tháng đầu đời.

2.2. Tác động đến phát triển tâm vận động của trẻ

Phát triển tâm vận động bao gồm bốn lĩnh vực chính: vận động thô, vận động tinh, ngôn ngữ và cá nhân xã hội. Thiếu vi chất dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não bộ. Trẻ sinh ra từ mẹ thiếu sắt thường có chỉ số phát triển DQ thấp hơn. Kẽm cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nhận thức. Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa chiều dài, chu vi vòng đầu khi 2 tuổi và thành tích học tập sau này. Can thiệp dinh dưỡng sớm giúp cải thiện đáng kể chỉ số phát triển của trẻ.

III. Giải pháp bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng

Nghiên cứu can thiệp thử nghiệm cộng đồng được triển khai tại huyện Hoài Đức, Hà Nội. Thiết kế nghiên cứu có nhóm đối chứng, đánh giá trước và sau can thiệp. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2015. Thời gian can thiệp thực địa từ tháng 7/2014 đến tháng 6/2015. Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm. Với độ tin cậy 95% và lực mẫu 0,80, nghiên cứu tuyển đủ số mẫu cần thiết. Phụ nữ có thai được bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm nồng độ hemoglobin, kẽm huyết thanh. Cân nặng sơ sinh, chiều dài sơ sinh và chu vi vòng đầu cũng được đo đạc. Chỉ số phát triển tâm vận động DQ được đánh giá ở trẻ 6 tháng tuổi. Kết quả cho thấy hiệu quả rõ rệt của chương trình can thiệp dinh dưỡng.

3.1. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu can thiệp

Nghiên cứu áp dụng thiết kế can thiệp thử nghiệm cộng đồng có nhóm đối chứng. Phương pháp đánh giá được thực hiện trước và sau thời gian can thiệp. Công thức tính cỡ mẫu dựa trên sự khác biệt về giá trị trung bình của hai nhóm. Mức ý nghĩa thống kê được xác định với độ tin cậy 95%. Lực mẫu đạt 0,80 đảm bảo phát hiện được sự khác biệt có ý nghĩa. Các xã tham gia nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên. Nhóm can thiệp và nhóm đối chứng được phân chia rõ ràng.

3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp

Chỉ tiêu đánh giá bao gồm nồng độ hemoglobin với mục tiêu chênh lệch 4,9g/L. Nồng độ kẽm huyết thanh với mong muốn chênh lệch 0,45 µmol/l. Cân nặng sơ sinh với mục tiêu chênh lệch 210g giữa hai nhóm. Chiều dài sơ sinh với mong muốn chênh lệch 0,75cm. Chỉ số phát triển tâm vận động DQ với mục tiêu chênh lệch 15 điểm. Các chỉ tiêu này được đo đạc bằng phương pháp chuẩn hóa. Đánh giá được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên y tế được đào tạo.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho cộng đồng

Kết quả nghiên cứu chứng minh hiệu quả của việc bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng. Tình trạng dinh dưỡng của mẹ được cải thiện đáng kể sau can thiệp. Nồng độ hemoglobin và kẽm huyết thanh tăng lên rõ rệt ở nhóm can thiệp. Cân nặng sơ sinh và chiều dài sơ sinh của trẻ cũng cao hơn nhóm đối chứng. Chỉ số phát triển tâm vận động DQ ở trẻ 6 tháng tuổi tốt hơn. Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của Viện Dinh dưỡng và các trung tâm y tế. Phó Giáo sư Nguyễn Thị Lâm và Phó Giáo sư Trương Tuyết Mai đã hướng dẫn trực tiếp. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng cho chính sách dinh dưỡng quốc gia. Chương trình bổ sung vi chất cần được nhân rộng tại các địa phương khác. Việc đào tạo nhân viên y tế tuyến cơ sở là yếu tố then chốt. Nghiên cứu đóng góp bằng chứng khoa học cho lĩnh vực dinh dưỡng bà mẹ trẻ em tại Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa khoa học của luận án tiến sĩ dinh dưỡng

Luận án cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của thực phẩm tăng cường vi chất. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thử nghiệm cộng đồng có đối chứng. Kết quả có độ tin cậy cao với cỡ mẫu đủ lớn và thiết kế chặt chẽ. Đây là công trình nghiên cứu do tác giả Tuấn Thị Mai Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn của hai phó giáo sư. Luận án đã được bảo vệ tại Viện Dinh dưỡng năm 2020. Đóng góp quan trọng vào kho tri thức về dinh dưỡng bà mẹ trẻ em.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi tại các tuyến y tế cơ sở. Chương trình bổ sung vi chất cần được tích hợp vào dịch vụ chăm sóc thai kỳ. Nhân viên y tế tại trạm y tế xã cần được đào tạo về tư vấn dinh dưỡng. Cộng tác viên y tế thôn bản đóng vai trò quan trọng trong việc vận động. Phụ nữ có thai cần được tiếp cận thực phẩm tăng cường vi chất sớm. Chi phí can thiệp thấp nhưng hiệu quả mang lại cao cho cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ dinh dưỡng hiệu quả bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai lên tình trạng dinh dưỡng của mẹ và sự phát triển của trẻ từ khi sinh đến 6

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng hơn 20 triệu trẻ sơ sinh, chiếm 1/6 tổng số trẻ sơ sinh trên toàn cầu có cân nặng sơ sinh thấp và 28% số trẻ này là ở khu vực Đông Á [1]. Tình trạng dinh dƣỡng kém của ngƣời mẹ trƣớc và trong thai kỳ là những yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp tới tăng trƣởng và phát triển của thai nhi [2, 3]. Kết quả công bố gần đây của WHO có tới 38,2%, tƣơng đƣơng với 114 triệu phụ nữ có thai (PNCT) trên toàn cầu bị thiếu máu; trong đó có 0,8 triệu PNCT bị thiếu máu nặng [4]. Thiếu kẽm cũng là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở phụ nữ có thai nhiều nƣớc đang phát triển nơi khẩu phần nhiều ngũ cốc, ít thức ăn nguồn gốc động vật [5].

Tại Việt Nam, tình trạng thiếu năng lƣợng trƣờng diễn, thiếu vi chất dinh dƣỡng vẫn là thách thức lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe cho PNCT, bà mẹ cho con bú [6, 7]. Dinh dƣỡng thai kỳ chƣa hợp lý, khẩu phần chƣa cân đối có thể là một trong các nguyên nhân của tình trạng nêu trên. Theo các nghiên cứu tại một số tỉnh thành, khu vực trong cả nƣớc, khẩu phần của PNCT mới đáp ứng đƣợc khoảng trên 80% nhu cầu khuyến nghị về năng lƣợng, các chất sinh năng lƣợng và đáp ứng khoảng trên 50% nhu cầu về một số vi chất dinh dƣỡng nhƣ sắt, kẽm, canxi [8, 9]. Chăm sóc dinh dƣỡng tốt trong 1000 ngày đầu đời, ngay từ khi bà mẹ thụ thai đến khi trẻ sinh ra tròn 2 tuổi là nội dung cấp thiết giúp cải thiện tình trạng dinh dƣỡng của bà mẹ và quan trọng hơn nữa là cải thiện tình trạng dinh dƣỡng, nâng cao tầm vóc và chất lƣợng sức khỏe vòng đời của trẻ.

Bên cạnh giải pháp bổ sung viên sắt a xít folic, viên đa vi chất cho PNCT thì các can thiệp bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng cho PNCT là hƣớng 2 tiếp cận nhằm nâng cao chất lƣợng khẩu phần thông qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dƣỡng thai kỳ. Để đánh giá hiệu quả của hƣớng can thiệp bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất cho PNCT, một số nghiên cứu đã đƣợc triển khai trên thế giới nhƣ nghiên cứu tại Chi lê, tại Banglades, Mỹ [10-12]. Tại Việt Nam có các thử nghiệm nhƣ bổ sung sữa tăng cƣờng sắt cho PNCT của tác giả Thúy Hòa, bổ sung bánh tăng cƣờng năng lƣợng và vi chất của tác giả Nguyễn Đăng Trƣờng, bổ sung sữa tăng cƣờng đa vi chất cho PNCT của tác giả Dieu T Huynh và cộng sự [13-15]. Các nghiên cứu trên thƣờng tập trung đo lƣờng hiệu quả đối với chỉ số nhân trắc, hóa sinh của trẻ và mẹ, có rất ít các công bố về hiệu quả can thiệp thai kỳ lên phát triển trí lực, tâm vận động ở trẻ.

Đối với chỉ số hóa sinh của mẹ, các nghiên cứu thƣờng tập trung vào tình trạng thiếu máu, thiếu sắt, trong khi hiện nay thiếu kẽm ở PNCT và bà mẹ cho con bú đang trở thành vấn đề sức khỏe cấp thiết [6]. Mặt khác thời gian can thiệp của các nghiên cứu trƣớc đây thƣờng là trong giai đoạn thai kỳ, không có nhiều các nghiên cứu mở rộng thời gian can thiệp cho bà mẹ từ thai kỳ cho đến 6 tháng sau sinh và đo lƣờng sự tăng trƣởng và phát triển của trẻ trong giai đoạn này. Có thể coi đây chính là những khoảng trống, những câu hỏi rất cần đƣợc trả lời bằng những nghiên cứu khoa học cụ thể, thực tiễn. Nghiên cứu sinh tiến hành đề tài "Hiệu quả bổ sung thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai lên tình trạng dinh dưỡng của mẹ và sự phát triển của trẻ từ khi sinh đến 6 tháng tuổi” nhằm cung cấp thêm các bằng chứng khoa học về hiệu quả của giải pháp bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất đối với tình trạng dinh dƣỡng, tình trang thiếu máu và thiếu kẽm ở PNCT, bà mẹ cho con bú, cũng nhƣ hiệu quả của giải pháp này đối với các chỉ số về phát triển thể chất và tâm vận động ở trẻ những tháng đầu sau sinh.

Kết quả của nghiên cứu đóng góp và củng cố thêm các bằng chứng khoa học, hỗ trợ 3 việc đƣa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả trong công tác chăm sóc dinh dƣỡng bà mẹ trẻ em, đặc biệt là giai đoạn 1000 ngày đầu. Mục tiêu của nghiên cứu 1. Đánh giá hiệu quả bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng đến tình trạng dinh dƣỡng của phụ nữ có thai tại 8 xã, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Đánh giá hiệu quả bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng đến tình trạng dinh dƣỡng của bà mẹ tháng thứ 6 sau sinh và sự phát triển của trẻ tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng tuổi.

Giả thuyết nghiên cứu: Việc bổ sung thực phẩm tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng mang lại hiệu quả tốt đối với mức tăng cân thai kỳ, tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm ở phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và hỗ trợ phát triển cả về thể chất và tâm vận động của trẻ trong 6 tháng đầu đời. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG 1. Thiếu năng lƣợng trƣờng diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ Thiếu năng lƣợng trƣờng diễn (Chronic energy deficiency - CED) là khái niệm phân loại chỉ số khối cơ thể khi ở ngƣỡng dƣới 18,5 kg/m2 [16].

Chỉ số BMI đƣợc tính bằng cân nặng chia cho chiều cao bình phƣơng và đƣợc sử dụng để đánh giá TTDD ở ngƣời trƣởng thành. Khi chỉ số BMI dƣới 18,5 kg/m2 là biểu hiện của tình trạng thiếu hụt dinh dƣỡng trong một thời gian dài hay còn gọi là thiếu năng lƣợng trƣờng diễn (CED). Tình trạng CED ở PNTSĐ đƣợc coi là một trong các yếu tố nguy cơ ảnh hƣởng đến kết quả thai nghén nhƣ tăng cân thai kỳ thấp, SDD bào thai hoặc sinh con nhẹ cân [2, 17] 1. Tăng cân thai kỳ ở phụ nữ có thai Tăng cân thai kỳ là mức gia tăng cân nặng kể từ khi bắt đầu mang thai đến ngay trƣớc khi sinh.

Tăng cân thai kỳ phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ TTDD của ngƣời mẹ trƣớc khi mang thai; quá trình chăm sóc dinh dƣỡng cũng nhƣ tình trạng bệnh tật, sức khỏe của ngƣời mẹ trong suốt thai kỳ, tình trạng phát triển của thai nhi [2, 17]. Theo khuyến cáo của Viện IOM (Institute of Medicine), bà mẹ khi mang thai cần đạt đƣợc ngƣỡng tăng cân phù hợp với tình trạng BMI trƣớc khi mang thai. Khuyến cáo của Viện IOM về mức tăng cân thai kỳ đƣợc tóm tắt trong bảng sau [18]. Mức tăng cân theo tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai Tình trạng dinh dƣỡng trƣớc mang thai Mức tăng cân khuyến nghị Thiếu năng lƣợng trƣờng diễn (BMI <18,5) 12,5 – 18 kg TTDD bình thƣờng (BMI 18,5- 24,9) 11,5 -16 kg Thừa cân (BMI 25- 29,9) 7-11,5 kg Béo phì (BMI =>30) 5-9 kg 1.

Suy dinh dƣỡng ở trẻ dƣới 5 tuổi Đánh giá TTDD ở trẻ dƣới 5 tuổi dựa vào các chỉ số nhân trắc chính, bao gồm tuổi, cân nặng, chiều cao, số đo vòng đầu, vòng cánh tay. Kết quả về các số đo nhân trắc đƣợc đánh giá, phân loại dựa vào sự so sánh với một bộ số liệu tham khảo có tính chất đại diện, chuẩn xác, đáng tin cậy. Từ năm 2006, quần thể WHO đƣợc khuyến cáo sử dụng là quần thể chuẩn. Cân nặng, chiều cao của trẻ từ 0 - 60 tháng tuổi đƣợc so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn WHO 2006.

Phân loại TTDD của trẻ dƣới 5 tuổi theo các dạng: cân nặng theo tuổi thấp (SDD nhẹ cân); chiều cao theo tuổi thấp (SDD thấp còi) và cân nặng theo chiều cao thấp (SDD gầy còm) [19]. Phát triển tâm vận động ở trẻ Khái niệm về tâm vận động ở trẻ Theo khái niệm của các nhà y học, tâm lý - giáo dục học, tâm vận động mô tả quá trình phát triển tƣơng quan giữa hệ thần kinh, nhận thức, tâm lý và các cơ quan vận động của trẻ [20]. Quá trình này diễn biến song song với sự trƣởng thành của hệ thần kinh, đặc biệt là sự hoàn thiện và phát triển của vỏ não, của các giác quan và của hệ cơ- xƣơng - khớp. Phát triển tâm vận động bị 6 ảnh hƣởng một phần bởi các yếu tố bên ngoài nhƣ đặc điểm nuôi dƣỡng, đặc điểm về tình trạng sức khỏe, tình trạng dinh dƣỡng, môi trƣờng sống [21, 22].

Các thang đo lường phát triển tâm vận động cơ bản: Tác giả Sutton Hailton (2005), trong bài tổng quan đánh giá về các thang đo lƣờng hay còn gọi là test đánh giá tâm vận động ở trẻ đã khái quát về đặc tính cơ bản của một số thang đo lƣờng tâm vận động đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay [23]: test PED (viết tắt của Parents‟ Evaluation of develop-mental Status) có cấu trúc gồm 2 câu hỏi mở và 8 câu hỏi đóng, test có thể thực hiện đƣợc bởi bố mẹ trẻ. Test này ra đời từ năm 1997 và sử dụng trên đối tƣợng trẻ 0 – 8 tuổi. Độ nhạy và độ đặc hiệu của test lần lƣợt là 75% và 74%. Bộ test đƣợc xây dựng bởi 2 tác giả là Bricker và Squires cùngcác cộng sự thuộc trƣờng đại học Oregon.

Theo cấu trúc ban đầu, bộ test gồm 19 câu hỏi đƣợc thiết kế cho trẻ từ 4 tháng đến 5 tuổi, đo lƣờng phát triển của trẻ trên 5 lĩnh vực: giao tiếp, vận động tinh, vận động thô, kỹ năng giải quyết vấn đề và cá nhân – xã hội. Độ nhạy và độ đặc hiệu của test lần lƣợt là 72% và 86% [23]. - Test Bayley (tên tiếng Anh là Bayley Infant Neurodevelopmental Screener- BINS), đƣợc Nancy Baley phát triển từ năm 1969, ban đầu test sử dụng trên đối tƣợng trẻ 3- 24 tháng tuổi để đánh giá về phát triển của các kỹ năng liên quan đến hệ thần kinh. Việc thực hiện test phức tạp hơn vì đòi hỏi trực tiếp tƣơng tác với trẻ.

Độ nhạy và độ đặc hiệu của test lần lƣợt là 75% và 86% [23],[24] Sau này test đƣợc cải tiến thành Bayley Scales of Infants Developmen II và áp dụng trên trẻ 1 tháng đến 42 tháng. Test Denver đƣợc áp dụng lần đầu 7 tiên vào năm 1967, đƣợc tiêu chuẩn hoá trên 20 quốc gia và đã áp dụng cho hơn 50 triệu trẻ trên toàn thế giới [24]. Năm 1992 test Denver II đƣợc phát triển từ test Denver với số lƣợng items nhiều hơn (Denver II gồm 125 items, Denver I có 105 items) và có một số cải tiến nhằm nâng cao độ nhạy của test.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ