Luận án tiến sĩ: Thực trạng thừa cân béo phì và yếu tố gen, thói quen dinh dưỡng ở trẻ mầm non - Đỗ Nam Khánh, Đại học Y Hà Nội

Tìm hiểu về thừa cân béo phì ở trẻ mầm non, phân tích yếu tố gen, chế độ dinh dưỡng và tác động đến sức khỏe. Giải pháp phòng ngừa và cải thiện cho trẻ.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Dinh dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2020

177
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ mầm non

Thừa cân béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức trong cơ thể. Tình trạng này gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, béo phì ở trẻ em đang gia tăng toàn cầu. Việt Nam không ngoại lệ. Tỷ lệ trẻ mầm non thừa cân béo phì tại các thành phố lớn tăng nhanh. Hà Nội ghi nhận tỷ lệ cao đáng báo động. Nghiên cứu của Đỗ Nam Khánh năm 2020 khảo sát trên hơn 13.000 trẻ mầm non. Kết quả cho thấy 5,3% trẻ bị béo phì. Tình trạng này liên quan nhiều đến chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng. Các gen như FTO, ADRB3 được nghiên cứu kỹ. Chẩn đoán béo phì dựa trên chỉ số Z-score cân nặng/chiều cao hoặc BMI. Phương pháp này phù hợp với nghiên cứu cộng đồng lớn. Việc xác định nguyên nhân giúp xây dựng giải pháp can thiệp hiệu quả. Phòng chống béo phì sớm ở trẻ mầm non là ưu tiên y tế công cộng.

1.1. Tình hình thừa cân béo phì trẻ em Việt Nam hiện nay

Việt Nam đang đối mặt gánh nặng kép dinh dưỡng. Một bên là suy dinh dưỡng, bên kia là thừa cân béo phì. Tỷ lệ béo phì trẻ em thành thị tăng gấp 3 lần trong 20 năm qua. Hà Nội có tỷ lệ trẻ mầm non thừa cân khoảng 8-10%. Các quận trung tâm có tỷ lệ cao hơn ngoại thành. Nguyên nhân chính bao gồm thay đổi lối sống, ăn nhiều thức ăn nhanh, ít vận động. Trẻ xem tivi, điện thoại nhiều giờ mỗi ngày. Gia đình có thu nhập cao thường cho con ăn uống không khoa học. Tình trạng này đòi hỏi can thiệp sớm từ bậc mầm non.

1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu béo phì ở trẻ nhỏ

Nghiên cứu béo phì dựa trên nhiều lý thuyết dinh dưỡng. Mô hình sinh-thể chất-xã hội được áp dụng rộng rãi. Yếu tố sinh học bao gồm gen và nội tiết tố. Yếu tố thể chất là chế độ ăn và vận động. Yếu tố xã hội là môi trường gia đình và trường học. Tiêu chuẩn đánh giá sử dụng WHO 2006 cho trẻ dưới 5 tuổi. WHO 2007 áp dụng cho trẻ trên 5 tuổi. Chỉ số Z-score được tính theo SD. Trẻ bình thường có Z-score từ -1SD đến +1SD. Trẻ béo phì có Z-score trên +2SD. Khung lý thuyết này định hướng toàn bộ quy trình nghiên cứu.

II. Phân tích đặc điểm gen và yếu tố nguy cơ béo phì trẻ mầm non

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong bệnh béo phì. Nghiên cứu tập trung vào một số gen liên quan đến chuyển hóa. Gen FTO ảnh hưởng đến cảm giác no và thèm ăn. Gen ADRB3 liên quan đến quá trình phân hủy mỡ. Gen PPAR gamma điều hòa biệt hóa tế bào mỡ. Phương pháp thu thập mẫu qua tế bào niêm mạc má. Đây là phương pháp không xâm lấn, phù hợp với trẻ nhỏ. Mẫu ADN được phân tích bằng kỹ thuật PCR. Nghiên cứu bệnh-chứng ghép cặp 1:2 đảm bảo tính khoa học. 354 trẻ béo phì và 708 trẻ bình thường được tuyển chọn. Kết quả cho thấy tần suất một số alen gen khác biệt giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Đặc biệt, trẻ mang alen nguy cơ có nguy cơ béo phì cao hơn. Tương tác gen-môi trường cũng được phân tích. Dinh dưỡng và hoạt động thể lực tương tác với gen. Hiểu rõ cơ chế gen giúp cá nhân hóa can thiệp phòng béo phì.

2.1. Vai trò của gen FTO và ADRB3 trong béo phì trẻ em

Gen FTO được phát hiện liên quan mạnh đến béo phì. Vị trí gen nằm trên nhiễm sắc thể 16. Biến thể gen FTO ảnh hưởng đến cảm giác đói và thèm ăn. Trẻ mang alen nguy cơ ăn nhiều hơn 100-300 kcal mỗi ngày. Gen ADRB3 mã hóa receptor beta-3 adrenergic. Receptor này tham gia quá trình ly giải mỡ trắng. Biến thể Trp64Arg làm giảm hoạt tính phân hủy mỡ. Nghiên cứu tại Hà Nội xác định tần suất alen này ở trẻ mầm non. Kết quả cho thấy alen Arg64 phổ biến hơn ở trẻ béo phì. Tuy nhiên, yếu tố gen chỉ giải thích 40-70% nguy cơ béo phì. Phần còn lại do môi trường và lối sống quyết định.

2.2. Tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường sống

Béo phì là bệnh đa yếu tố. Gen tạo predisposition nhưng môi trường kích hoạt biểu hiện. Trẻ mang gen nguy cơ sống trong môi trường thuận lợi dễ béo phì hơn. Chế độ ăn nhiều chất béo, đường tinh chế kích hoạt gen béo phì. Hoạt động thể lực giúp giảm biểu hiện gen nguy cơ. Nghiên cứu phân tích tương tác gen-dinh dưỡng cho kết quả đáng chú ý. Trẻ mang alen FTO nguy cơ ăn nhiều bánh kẹo tăng nguy cơ béo phì gấp 2,5 lần. Ngược lại, trẻ cùng gen nhưng vận động nhiều giảm nguy cơ đáng kể. Hiểu tương tác này giúp xây dựng can thiệp cá nhân hóa. Mỗi trẻ cần được đánh giá cả yếu tố gen lẫn lối sống.

III. Phương pháp nghiên cứu và can thiệp dinh dưỡng hoạt động thể lực

Nghiên cứu áp dụng thiết kế bệnh-chứng ghép cặp. Lấy mẫu trên 13.000 trẻ mầm non tại 36 trường Hà Nội. Ba quận/huyện được chọn đại diện. Tiêu chuẩn đánh giá sử dụng WHO 2006 và 2007. Chỉ số Z-score cân nặng/chiều cao và BMI được tính toán. Trẻ béo phì có Z-score trên +2SD. Trẻ bình thường từ -1SD đến +1SD. Tỷ lệ ghép cặp 1:2 đảm bảo kiểm soát nhiễu. Tuổi, giới, lớp học được ghép cặp chính xác. Thu thập mẫu tế bào niêm mạc má không xâm lấn. Phụ huynh ký cam đoan đồng thuận. Bảng hỏi đánh giá thói quen dinh dưỡng được xây dựng. Hoạt động thể lực đo bằng bảng hỏi tần suất. Dữ liệu phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Mô hình hồi quy logistic đánh giá yếu tố nguy cơ. Kết hợp phân tích gen và yếu tố môi trường. Phương pháp này đảm bảo tính khoa học và khả năng áp dụng rộng rãi.

3.1. Quy trình thu thập mẫu và phân tích gen di truyền

Thu thập mẫu tế bào niêm mạc má bằng tăm bông y tế. Quy trình không đau, không xâm lấn, phù hợp trẻ nhỏ. Mẫu được bảo quản ở -20 độ C. ADN được chiết xuất bằng kit thương mại. Kỹ thuật PCR-RFLP phân tích đa hình gen. Điện di trên gel agarose xác định kiểu gen. Kiểm soát chất lượng mẫu đạt tỷ lệ thành công trên 95%. Mẫu bệnh và chứng được xử lý song song. Nhân viên phòng xét nghiệm không biết nhóm bệnh-chứng. Điều này giảm thiên lệch trong phân tích. Toàn bộ quy trình đạt tiêu chuẩn phòng thí nghiệm Good Laboratory Practice.

3.2. Đánh giá thói quen dinh dưỡng và mức độ hoạt động thể lực

Bảng hỏi dinh dưỡng do nhóm nghiên cứu xây dựng. Nội dung bao gồm tần suất ăn các nhóm thực phẩm. Số bữa ăn chính và bữa phụ mỗi ngày. Thói quen ăn thức ăn nhanh, bánh kẹo, nước ngọt. Thời gian ăn cùng gia đình và xem thiết bị điện tử. Bảng hỏi được kiểm định nội dung bởi chuyên gia. Thử nghiệm trước trên 50 trẻ. Hoạt động thể lực đo bằng bảng hỏi tần suất vận động. Số phút chơi ngoài trời mỗi ngày. Thời gian ngồi xem tivi, điện thoại. Dữ liệu do phụ huynh và giáo viên cung cấp. Độ tin cậy bảng hỏi đạt Cronbach alpha trên 0,7.

IV. Kết luận và ứng dụng phòng chống béo phì trẻ mầm non

Nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ mầm non Hà Nội là 5,3%. Một số gen liên quan đến béo phì được xác định. Gen FTO và ADRB3 có tần suất alen nguy cơ cao ở trẻ béo phì. Thói quen dinh dưỡng không hợp lý là yếu tố nguy cơ chính. Ăn nhiều thức ăn nhanh, bánh kẹo làm tăng nguy cơ béo phì. Hoạt động thể lực不足 cũng góp phần gây bệnh. Tương tác gen-môi trường ảnh hưởng đáng kể đến biểu hiện béo phì. Nghiên cứu gợi ý can thiệp đa chiều. Giáo dục dinh dưỡng cho phụ huynh và giáo viên là then chốt. Tăng cường hoạt động thể lực tại trường mầm non. Chương trình can thiệp cần cá nhân hóa theo yếu tố gen. Phát hiện sớm trẻ có nguy cơ giúp phòng ngừa hiệu quả. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho chính sách y tế dự phòng.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp dữ liệu gen đầu tiên về béo phì trẻ em Việt Nam. Cung cấp tỷ lệ hiện mắc chính xác tại Hà Nội. Xác định mối liên hệ giữa gen, dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Thiết kế bệnh-chứng ghép cặp đạt tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả được công bố trên tạp chí khoa học uy tín. Về thực tiễn, nghiên cứu giúp xây dựng chương trình can thiệp. Bộ câu hỏi đánh giá dinh dưỡng được sử dụng rộng rãi. Kết quả gen hỗ trợ tư vấn di truyền cho gia đình có trẻ béo phì. Nghiên cứu là mô hình cho các tỉnh thành khác áp dụng.

4.2. Khuyến nghị cho chương trình phòng chống béo phì trẻ em

Xây dựng chương trình dinh dưỡng học đường từ bậc mầm non. Giáo viên được tập huấn về dinh dưỡng trẻ em. Phụ huynh tham gia các buổi tư vấn dinh dưỡng gia đình. Tăng thời gian hoạt động thể lực tại trường lên 60 phút mỗi ngày. Hạn chế quảng cáo thức ăn nhanh hướng đến trẻ em. Bổ sung sàng lọc gen nguy cơ béo phì vào khám sức khỏe định kỳ. Xây dựng thực đơn mẫu cân đối cho nhà trẻ. Đo BMI và theo dõi tăng trưởng mỗi quý. Đánh giá hiệu quả can thiệp sau 12 tháng. Nhân rộng mô hình thành công tại các địa phương khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng thừa cân béo phì và một số đặc điểm gen thói quen dinh dưỡng hoạt động

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa thừa cân, béo phì Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ13,14.

Phân loại thừa cân, béo phì 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học  Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng.  Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý gây nên: - Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng.

- Béo phì do cường vỏ thượng thận. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng. - Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục.

- Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì9,15. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. 4 - Béo phì bắt đầu ở người lớn: là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường.

- Béo phì xuất hiện sớm: là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi. - Béo phì xuất hiện muộn: là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. - Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác16.

Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng: Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng. - Béo đùi: Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì. Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng insulin máu, và rối loạn lipid máu hơn so với béo đùi16,17.

Một số cách phân loại khác - Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì. - Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em. - Trẻ thừa cân và thừa mỡ, thừa mỡ nhưng không thừa cân (rất ít trẻ thuộc nhóm này) và thừa cân nhưng không thừa mỡ18,19. Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em thế giới và tại Việt Nam 1.

Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em trên thế giới Béo phì được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với y tế công cộng trong thế kỉ XXI với số lượng người béo phì năm 2014 đã cao hơn gấp đôi so với năm 198013. TC, BP là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm2. TC, BP không chỉ là vấn 5 đề sức khỏe cộng đồng ở các quốc gia phát triển mà ngay cả các quốc gia đang phát triển số lượng người béo phì cũng đang tăng nhanh, đặc biệt là ở khu vực thành thị13,. Điều đáng lo ngại là sự gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ em toàn cầu đang ở mức báo động (Hình 1.

Ước tính đến năm 2030, gần một phần ba dân số thế giới có thể bị TC, BP20. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba lần từ năm 1975 đến năm 2016. Năm 2016, ước tính có 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì13. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi đã tăng đáng kể từ chỉ 4% năm 1975 lên hơn 18% vào năm 2016.

Sự gia tăng tỉ lệ này đã xảy ra ở cả nam và nữ: năm 2016 18% trẻ em gái và 19 % con trai bị thừa cân. Trong khi chỉ có dưới 1% trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị béo phì vào năm 1975, thì có hơn 124 triệu trẻ em và thanh thiếu niên (6% trẻ em gái và 8% trẻ em trai) bị béo phì vào năm 201613. Tính đến năm 2019 có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC, BP, trong số đó có hơn 1 nửa trẻ đang sinh sống ở Châu Á21. Bản đồ tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì của các nước trên thế giới từ năm 2000 đến 2014 (Nguồn: http://www.org/Obesity Sedentary Crisis/Global_Obesity_Charts.htm) 6 TC, BP từng được coi là một vấn đề của quốc gia có thu nhập cao, nhưng tình trạng này đang gia tăng ở cả các nước thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu vực thành thị.

Ở Châu Phi, số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 50% kể từ năm 2000. Hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 5 đến 19 bị thừa cân hoặc béo phì trong năm 20162,13. Theo kết quả nghiên cứu được công bố năm 2014, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em và trẻ vị thành niên ở các nước phát triển năm 2013 ở nam là 23,8% (22,9-24,7) và ở nữ 22,6% (21,7- 23,6). Tỷ lệ trẻ em và trẻ vị thành niên TC, BP cũng tăng nhanh ở các nước đang phát triển, năm 2013 tỷ lệ ở nam là 12,9% (12,3-13,5) và nữ là 13,4% (13,0-13,9)22.

Theo thống kê tại Mỹ, TC, BP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và toàn xã hội23. Trong số những trẻ có độ tuổi từ 2 đến 19 tuổi, tỷ lệ TC, BP trong giai đoạn 2011-2014 vào khoảng 17,0% và béo phì mức độ nặng vào khoảng 5,8%. Với đối tượng trẻ từ 2 đến 5 tuổi, tỷ lệ mắc TC, BP tăng từ 7,2% (giai đoạn 1988-1994) lên 13,9% (giai đoạn 2003-2004), sau đó giảm còn 9,4% (giai đoạn 2013-2014). Riêng với đối tượng trẻ từ 6 đến 11 tuổi, tỷ lệ mắc béo phì tăng từ 11,3% (giai đoạn 1988-1994) lên đến 19,6% (giai đoạn 2007-2008) và tỷ lệ này hầu như không thay đổi vào năm 2013-201424.

Tại châu Âu, trong những năm gần đây, tỷ lệ béo phì trẻ em tăng nhanh đáng báo động ở các quốc gia. Năm 2005, theo báo cáo của Tổ chức chuyên trách béo phì quốc tế (IOTF) thì cứ 5 trẻ em thì có 1 trẻ bị thừa cân hay béo phì. Các quốc gia ở vùng Địa Trung hải có tỷ lệ tăng cao nhất: thậm chí có nơi tỷ lệ thừa cân ở trẻ em ngang với ở Mỹ, tới 30%. Các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của TC, BP: những năm 70, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 0,2% thì đến nay là 2% (tương đương với khoảng 400.

Tại Châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng. Tại Trung Quốc, năm 2018, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em tiểu học và trung học của Trung Quốc là 14, 0% và tỷ lệ béo phì là 10,5%27. Theo nghiên cứu của Yu và cs 7 ở 32862 trẻ em Trung Quốc dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ở cả vùng thành thị và nông thôn đều là 8,4%, trong đó tỷ lệ béo phì trẻ nam là 9,4%, béo phì trẻ nữ là 7,2%. Tỷ lệ béo phì theo mức thu nhập gia đình thấp, trung bình, cao lần lượt là 2,8%, 3,3% và 3,5%28.

Ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ béo phì ở trẻ em khác nhau rõ rệt giữa các nước. Tại Campuchia, do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tốc độ đô thị hóa chưa mạnh nên tỷ lệ béo phì tương đối thấp, Campuchia chưa phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của Horiuchi và cs trên hơn 2000 học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy, tỷ lệ TC, BP chỉ 3,1%, trong đó tỷ lệ ở thành thị là 6,4% và nông thôn là 2,3%29. Tại Indonesia, theo nghiên cứu của Rachmi và cs công bố năm 2016 qua các năm 1993, 1997, 2000, 2007, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ TC, BP tăng từ 10,3% lên 16,5%, các yếu tố của nguy cơ béo phì như trẻ ở độ tuổi 2 đến 2,9, trẻ nam và trẻ có cha mẹ TC, BP.

Bên cạnh đó Indonesia vẫn phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng tương tự như Việt Nam khi tỷ lệ suy dinh dưỡng ở Indonesia năm 1993 là 34,5% và đến năm 2007 giảm còn 21,4%30. Nghiên cứu của Naidu trên 7749 trẻ em từ 7 đến 12 tuổi ở Malaysia cho thấy tỷ lệ béo phì chung là 19,9%, những trẻ nam, những trẻ Malaysia gốc Hoa, những trẻ thành phố có nguy cơ béo phì cao hơn rõ rệt so với các trẻ khác31. Trong 1 nghiên cứu khác ở trẻ béo phì từ 5 đến 9 tuổi ở Malaysia 32 cho thấy 25% trẻ em tiêu thụ thức ăn quá nhu cầu khuyến nghị, trẻ nam tiêu thụ thực phẩm nhiều hơn rõ rệt so với nữ. Trẻ nam cũng tiêu thụ calcium, thiamine, riboflavin, và niacin cao hơn rõ rệt so với trẻ nữ.

Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em tại Việt Nam Tại Việt Nam, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em tăng gấp đôi từ 3,3% lên 6,6% trong giai đoạn 2000-2005 và 6,6% lên 12% trong giữa 2005 -2010 và tăng gần gấp rưỡi từ 12% lên 17,5% trong giai đoạn 2010 -2015. Trong vòng 15 năm, tỷ lệ thừa cân trẻ em tăng hơn 4 lần từ 3,3% (2000) lên 17,5% (2015)33. Ở nước ta tỷ lệ trẻ TC, BP ở học sinh tiểu học có xu hướng tăng cao đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. 8 Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ TC, BP ở học sinh có sự gia tăng rất nhanh.

Nghiên cứu năm 2007 ở trường học ở quận 1 có tỷ lệ béo phì là 41,1% và trường ở quận 7 có tỷ lệ béo phì là 10,8%34. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thu Diệu năm 2007 trên 670 trẻ em mầm non Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 20,5% (95% CI: 17,5-24,3) và 16,3% (95% CI: 13,2-20,4).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ