CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cổ tử cung Cổ tử cung là một phần của hệ sinh dục nữ, dài khoảng 2–3cm (0,8–1,2 in)[11]. CTC có hình nón cụt, có âm đạo bám vào chia CTC thành 2 phần: Phần trong âm đạo và phần trên âm đạo. Cổ tử cung có lớp niêm mạc lót bên trong, có lớp cơ trơn dày, phía sau phần trên âm đạo cổ tử cung có lớp thanh mạc cấu tạo bởi mô liên kết và phúc mạc bên trên.
Ống cổ tử cung rất khác nhau về chiều dài và chiều rộng giữa các phụ nữ hoặc trong suốt cuộc đời của phụ nữ[11]. Bạch huyết cổ tử cung sau và cổ tử cung ngoài chảy dọc theo các động mạch tử cung đến các hạch chậu trong và cuối cùng là đến các hạch cạnh động mạch chủ, còn bạch huyết phần sau của cổ tử cung chạy vào đến các hạch bạch huyết bịt và hạch bạch huyết trước xương cùng[12]. Tuy nhiên, ở một số người có những biến thể khi dẫn lưu bạch huyết từ cổ tử cung đi đến các nhóm khác nhau của hạch vùng chậu. Điều này có ý nghĩa trong việc tìm và phát hiện hạch liên quan đến ung thư cổ tử cung.
Phía ngoài CTC được bao phủ bởi biểu mô lát tầng (biểu mô kép dẹt gai) giống biểu mô âm đạo nhưng không có nếp gấp. Ống CTC được phủ bởi biểu mô trụ với tế bào cao, tiết dịch nhầy và có nhiều rãnh gồ ghề. Vùng tiếp giáp giữa biểu mô lát và biểu mô trụ gọi là vùng chuyển tiếp. Phía dưới vùng chuyển tiếp có những tế bào dự trữ, các tế bào này có khả năng tăng sinh và biệt hóa thành biểu mô lát tầng hoặc biệt hóa thành biểu mô trụ, nhằm mục đích tái tạo lại các tổn thương ở CTC.
Bình thường pH dịch CTC kiềm nhẹ (7 - 7,5), dịch âm đạo có tính acid nhẹ và thay đổi từ 3,8 - 4,6 nhờ trực khuẩn doderlin có trong âm đạo chuyển glycogen thành acid lactic. Với các môi trường pH này có khả năng bảo vệ niêm mạc âm đạo và CTC, chống lại các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài [13]. Khái niệm ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung (tiếng Anh là Cervical Cancer) là bệnh lý ác tính của tế bào biểu mô lát (tế bào biểu mô vảy) hoặc tế bào biểu mô tuyến cổ tử cung phát triển bất thường dẫn đến hình thành các khối u trong cổ tử cung. Các khối u này nhân lên một cách mất kiểm soát, xâm lấn và tác động đến các cơ quan xung quanh, thường gặp nhất là di căn đến phổi, gan, bàng quang, âm đạo và trực tràng.
Một vài thuật ngữ được dùng để mô tả những thay đổi tiền ung thư, bao gồm ung thư cổ tử cung trong biểu mô (Cervical Intraepithelial Neoplasia - CIN), tổn thương biểu mô vảy (Squamous Intraepithelial Lesion - SIL), và chứng loạn sản. Những thay đổi này có thể được phát hiện bằng xét nghiệm PAP và điều trị kịp thời để ngăn ngừa ung thư tiến triển. Hầu hết các ung thư cổ tử cung bắt nguồn từ biểu mô vảy (90%), tiếp đến là biểu mô tuyến. Cũng có thể gặp các thể khác của ung thư cổ tử cung như: dạng hỗn hợp biểu mô tuyến và vảy; sarcoma tử cung… Các khối u ác tính ở CTC có thể di căn và phá hủy các bộ phận khác của cơ thể [14].
UTCTC hình thành trong mô CTC do nhiễm vi rút sinh u nhú ở người, HPV. Nhiễm HPV là nguyên nhân cần thiết gây UTCTC sau lần nhiễm đầu tiên, khoảng 5-10% có thể hình thành các biến đổi [14]. Phụ nữ bị nhiễm HPV nguy cơ cao và phối hợp thêm các nguy cơ khác, tổn thương ban đầu có thể tồn tại và tiến triển trong 10 - 20 năm để hình thành UTCTC với hệ miễn dịch bình thường và chỉ 5-10 năm nếu bị suy giảm miễn dịch 4 Hình 1.1: Hình ảnh ung thư CTC (Nguồn từ Dược diển Việt Nam) 1.3 Các yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung Nhiễm vi rút HPV (Human Papilloma Virus – Vi rút sinh u nhú ở người): là một họ gồm hơn 150 týp (chủng loại) vi rút. Trong đó HPV 16 gây ra khoảng 60% các trường hợp ung thư cổ tử cung.
HPV 18 khoảng 10% trường hợp. Mỗi loại HPV nguy cơ cao khác liên quan đến ung thư dưới 5% các trường hợp. Quan hệ tình dục sớm: những tế bào bao phủ cổ tử cung ( tế bào biểu mô cổ tử cung) chỉ được hoàn thiện đầy đủ sau tuổi 18, quan hệ tình dục sớm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai, HIV, và HPV, góp phần tăng nguy cơ xuất hiện ung thư cổ tử cung.Ngoài ra quan hệ tình dục sớm, quan hệ nhiều người, sinh nhiều con cũng là một trong những yếu tố nguy cơ cao gây UTCTC. Hút thuốc lá: chủ động hay bị động đều đã được chứng minh có liên quan đến sự phát sinh của ung thư cổ tử cung hay bệnh lí mạn tính như đái tháo đường,… và hội chứng suy giảm miễn dịch HIV.
Sử dụng thuốc tránh thai đường uống lâu dài (hơn 5 năm) có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung ở những phụ nữ nhiễm HPV, nguy cơ giảm xuống sau khi ngừng sử dụng thuốc.4 Một số đặc điểm và con đường lây truyền của virut HPV 1.1 Một số đặc điểm của virut HPV Hình 1. Hình ảnh virut HPV ( Nguồn CDC tp Hồ Chí Minh) HPV là một trong những tác nhân phổ biến của bệnh lây truyền qua tình dục ở nam và nữ. Tại Hoa Kỳ, ước tính tỷ lệ mới mắc khoảng 1-5.5 x 106 mỗi năm, với ước tính tổng số hiện mắc khoảng hơn 20 x 10 6 người. Có hơn 40 type HPV có thể lây truyền dễ dàng qua hoạt động tình dục trực tiếp, từ da và niêm mạc người bị nhiễm sang da và niêm mạc của bạn tình.
Ngoài ra, do đặc điểm cấu trúc chỉ có capsid, nên HPV khá bền, do đó có thể có cơ chế lây truyền ngoài hoạt động tình dục như tiếp xúc với đồ vật có nhiễm HPV (quần áo chung), hay qua sex toys…Các papillomavirus thuộc họ Papovaviridae. HPV có đường kính 55 nm và không có vỏ (màng bọc lipid). Lớp vỏ protein của vi rút bao bọc nucleic acid và được cấu thành từ các đơn vị cấu trúc (structure units), các đơn vị cấu trúc này cấu thành 1 capsomer, gồm 72 capsomer hình sao 5 cánh, được tạo bởi protein L1. Protein L2 hiện diện trong virus với số lượng ít hơn và nâng đỡ cho bộ khung protein L1.
Bên trong capsid là cấu trúc DNA của HPV, là một chuỗi DNA kép, 7904 bp, khép vòng, gồm: - E1 và E2: phụ trách nhân bản - E4 và E5: tái tổ hợp - L1 và L2: phụ trách capsid protein - E6 và E7: mã hóa cho những protein đa chức năng 6 Các protein mã hóa bởi E6 và E7 là các protein sẽ gắn với các thành tố p53 và pRb, có vai trò quyết định trong khả năng sinh ung thư của HPV. Tùy theo cơ quan đích, có 2 nhóm HPV: - Nhóm HPV trên da có cơ quan đích là da bàn tay và bàn chân - Nhóm HPV niêm mạc xâm nhiễm lớp tế bào trong cùng của niêm mạc môi, miệng, đường hô hấp và biểu mô sinh dục. Cho đến nay, đã có gần 120 loại HPV được xác định. Mỗi loại có sự thích nghi cao với một loại biểu mô nhất định.
Trong các HPV tấn công niêm mạc sinh dục, các HPV có liên quan đến ung thư cổ tử cung và những tổn thương tiền ung thư nên có thể chia thành nhóm: - Nhóm nguy cơ thấp gồm các type 6,11, 42, 43 và 44. - Nhóm nguy cơ cao gồm các HPV type: 16, 18, 31, 33, 34, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68 và 70. Tuy có sự khác biệt về tần suất nhiễm các loại HPV giữa các vùng địa lý nhưng type 16 và type 18 thường là nguy cơ gây ung thư cổ tử cung ở hầu hết các nơi trên thế giới [18]. Phần lớn nhiễm HPV là lành tính.
Nhiễm HPV có thể tự khỏi nếu cơ thể có đáp ứng miễn dịch tốt. Ung thư cổ tử cung có thời gian phát triển dài, trung bình có khoảng từ 10 đến 15 năm tiến triển từ loạn sản đến ung thư. Đây là khoảng thời gian thuận lợi cho việc tầm soát ung thư cổ tử cung, giúp phát hiện sớm và điều trị những tổn thương loạn sản cũng như ung thư giai đoạn sớm.2 Các đường lây truyền và hậu quả do nhiễm HPV Đường lây truyền chủ yếu của HPV là qua đường tình dục khi người phụ nữ còn trẻ [19], [20]. Mặt khác, HPV còn lây truyền qua đường quan hệ tình dục ở những người nam đồng tính, lưỡng tính và dị tính [21].
Do đó, HPV thường cũng được tìm thấy trong đường sinh dục của nam và nữ có và không có tổn thương lâm sàng [22]. Virus HPV rất đề kháng với nhiệt và khi bị làm khô, do đó rất dễ lây nhiễm. HPV cũng có thể lây truyền trực tiếp từ da qua da, qua niêm mạc miệng và niêm mạc bộ phận sinh dục do vết thương hở ở bộ phận sinh dục, qua các 7 hành vi tình dục trong đó có sờ, chạm vào bộ phận sinh dục bằng tay hoặc bằng miệng của người bệnh sang người lành [23]. HPV còn có thể lây truyền qua các vật dụng như quần áo hay bề mặt tiếp xúc, tuy nhiên cơ chế lây truyền chưa rõ.
Một số tác giả cho rằng HPV có thể lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ trước và sau sinh, tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp [24]. Trong khi sinh ngã âm đạo của những thai phụ bị nhiễm HPV với tỷ lệ 32% trẻ được sinh ra từ mẹ bị nhiễm HPV có sự hiện diện của HPV trong khoang miệng của trẻ [25] Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ mắc một số loại ung thư khác như ung thư âm đạo, âm hộ ở phụ nữ; ung thư dương vật ở nam giới hoặc ung thư da, tổ chức liên kết, vòm họng, trực tràng, hậu môn và hầu họng ở cả phụ nữ và nam giới [26],. HPV còn có thể gây ra mụn cóc ở cơ quan sinh dục và mụn cơm ở họng, tay, chân. Tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng u nhú gây tình trạng không thoải mái, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, giảm chất lượng cuộc sống của người nhiễm HPV [27].5 Tình hình nhiễm HPV 1.
Tình hình nhiễm HPV trên thế giới Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có trên 500.