Thực trạng tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi tại Tuyên Quang và các yếu tố liên quan

Nghiên cứu chi tiết về thực trạng tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi tại Tuyên Quang, phân tích tỷ lệ mắc bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan.

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2022

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại Tuyên Quang

Nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học Y Dược Thái Nguyên năm 2022 cho thấy tăng huyết áp là một vấn đề y tế công cộng đáng lo ngại ở tỉnh Tuyên Quang. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở người từ 40 tuổi trở lên tại các cộng đồng tỉnh Tuyên Quang đã đạt mức đáng kể, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và tình trạng sức khỏe toàn dân. Nghiên cứu dựa trên phương pháp mô tả cắt ngang, với sự tham gia của các cán bộ y tế từ 5 Trung tâm Y tế, 10 Trạm Y tế xã/phường và các trạm y tế thôn bản. Dữ liệu thu thập cho thấy sự phân bố của tăng huyết áp theo các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế gia đình khác nhau, cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình bệnh tại địa phương.

1.1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp

Tăng huyết áp được định nghĩa là tình trạng huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg. Bộ Y tế Việt Nam đã phân loại tăng huyết áp thành nhiều mức độ khác nhau để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Phân loại này là cơ sở để xác định mức độ nguy hiểm và lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp cho bệnh nhân.

1.2. Tỷ lệ mắc bệnh theo nhóm tuổi

Tỷ lệ tăng huyết áp tăng đáng kể theo độ tuổi, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên. Những người trong độ tuổi 40-50 cũng có tỷ lệ mắc bệnh cao, cho thấy sự cần thiết của việc phát hiện sớm tăng huyết áp ở các nhóm tuổi này để phòng chống các biến chứng.

II. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp

Nghiên cứu tại Tuyên Quang đã xác định nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp. Những yếu tố này được chia thành hai nhóm chính: những yếu tố có sẵn (không thể thay đổi) và những yếu tố có thể thay đổi được. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi, giới tính, tiền sử gia đình, chỉ số khối cơ thể (BMI), lối sống, chế độ ăn uống, mức độ hoạt động thể chất và căng thẳng. Hiểu rõ về các yếu tố nguy cơ này giúp cơ quan y tế địa phương xây dựng các chương trình phòng chống bệnh hiệu quả và thích hợp với cộng đồng.

2.1. Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình

Tiền sử gia đình là một yếu tố nguy cơ quan trọng không thể thay đổi. Những người có bố mẹ hoặc người thân họng hàng mắc tăng huyết áp có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Nghiên cứu cho thấy mối liên quan mạnh mẽ giữa tiền sử gia đình tăng huyết áp và tình trạng mắc bệnh ở người từ 40 tuổi trở lên.

2.2. Chỉ số khối cơ thể BMI và thừa cân béo phì

Chỉ số khối cơ thể (BMI) cao là yếu tố nguy cơ quan trọng và có thể thay đổi được. Người có BMI vượt mức tiêu chuẩn (≥25 kg/m²) có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn. Giảm cân thông qua chế độ ăn uống lành mạnh và tập luyện thể dục có thể giảm huyết áp và giảm nguy cơ các biến chứng.

2.3. Lối sống và thói quen hàng ngày

Các yếu tố liên quan đến lối sống như ăn mặn quá nhiều, hút thuốc lá, uống rượu bia, căng thẳng và thiếu hoạt động thể chất đều tăng nguy cơ tăng huyết áp. Thay đổi lối sống lành mạnh là biện pháp phòng chống và kiểm soát tăng huyết áp hiệu quả nhất.

III. Phân bố tăng huyết áp theo đặc điểm nhân khẩu học

Nghiên cứu tại tỉnh Tuyên Quang đã phân tích phân bố tăng huyết áp theo nhiều đặc điểm nhân khẩu học khác nhau. Tăng huyết áp phân bố không đều giữa nam và nữ, với những khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh. Đồng thời, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc tăng huyết áp. Những người có trình độ học vấn thấp hơn thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, có thể do thiếu nhận thức về sức khỏe và các biện pháp phòng chống bệnh. Kinh tế gia đình cũng đóng vai trò quan trọng, vì những gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn có khả năng tiếp cận y tế tốt hơn và thực hành lối sống lành mạnh.

3.1. Phân bố theo giới tính

Phân bố tăng huyết áp theo giới cho thấy những khác biệt giữa nam và nữ. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới có xu hướng cao hơn ở các độ tuổi trẻ, nhưng ở nữ giới tỷ lệ tăng đáng kể sau tuổi mãn kinh. Hiểu rõ mối liên quan giữa giới và tăng huyết áp giúp xây dựng các chương trình phòng chống phù hợp.

3.2. Phân bố theo trình độ học vấn và nghề nghiệp

Những người có trình độ học vấn cao thường có kiến thức tốt hơn về sức khỏe và các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp. Nghề nghiệp cũng ảnh hưởng, vì những công việc đòi hỏi căng thẳng cao hoặc ít hoạt động thể chất có liên quan đến tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn.

3.3. Phân bố theo tình trạng kinh tế

Tình trạng kinh tế gia đình ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thực hiện các biện pháp phòng chống tăng huyết áp. Những gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn có tỷ lệ kiểm soát bệnh tốt hơn và ít biến chứng hơn.

IV. Ý nghĩa phòng chống và khuyến cáo cho cộng đồng Tuyên Quang

Kết quả nghiên cứu về thực trạng tăng huyết ápcác yếu tố nguy cơ ở Tuyên Quang cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch phòng chống bệnh hiệu quả. Các cơ quan y tế cần tập trung vào các nhóm dân cư có yếu tố nguy cơ cao, đặc biệt là người từ 40 tuổi trở lên. Cần thực hiện các chương trình sàng lọc tăng huyết áp định kỳ, nâng cao nhận thức cộng đồng về nguy hiểm của bệnh và các biện pháp phòng chống. Đầu tư vào y tế cơ sở, đảm bảo các trạm y tế có đủ thiết bị để đo huyết áp và theo dõi bệnh nhân. Thúc đẩy lối sống lành mạnh thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe cộng đồng là những bước quan trọng để giảm gánh nặng bệnh tật ở địa phương.

4.1. Chương trình sàng lọc và phát hiện sớm

Cần xây dựng các chương trình sàng lọc tăng huyết áp thường xuyên ở các cộng đồng, đặc biệt tại các trạm y tế xã/phường. Phát hiện sớm tăng huyết áp giúp ngăn ngừa các biến chứng tim mạch nguy hiểm và cải thiện kết quả điều trị.

4.2. Giáo dục sức khỏe cộng đồng

Tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏe về tăng huyết ápcác yếu tố nguy cơ thông qua các buổi tuyên truyền, tập huấn cho người dân. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi lối sống lành mạnh, kiểm soát cân nặng, giảm muối, tập luyện thể dục đều đặn.

4.3. Nâng cao năng lực hệ thống y tế

Đầu tư phát triển hệ thống y tế cơ sở, nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp tại các tuyến y tế địa phương. Đảm bảo cung cấp thuốc điều trị tăng huyết áp ổn định, giá thành phải chăng để những bệnh nhân từ mọi tầng lớp xã hội đều có thể tiếp cận.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Định nghĩa, phân loại và chẩn đoán tăng huyết áp 1. Định nghĩa Theo tổ chức Y tế thế giới và hội tăng huyết áp quốc tế đã thống nhất gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [39]. Phân độ Tại Việt Nam, theo hướng dẫn của Bộ Y tế (Quyết định số 3192/QĐ- BYT ngày 31/08/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế) con số huyết áp thu được sau khi thực hiện đo huyết áp đúng cách, sẽ xác định huyết áp của người đó bằng bảng sau [5]: Bảng 1.

Phân độ huyết áp tiêu chuẩn theo Bộ Y tế Huyết áp tâm Huyết áp tâm Phân độ HA thu (mmHg) trương (mmHg) Huyết áp tối ưu < 120 và < 80 Huyết áp bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 – 84 Tiền tăng huyết áp 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 Tăng huyết áp độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99 Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 và/hoặc 100 – 109 Tăng huyết áp độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 Tăng huyết áp tâm thu ≥ 140 và < 90 đơn độc 4 * Xác định mức huyết áp có ý nghĩa Những người có mức huyết áp tối ưu hoặc mức huyết áp bình thường thì nguy cơ bị bệnh tim mạch thấp. Những người có huyết áp ở mức tiền tăng huyết áp: Sau 1 năm có 20% những người tiền tăng huyết áp chuyển thành tăng huyết áp thực sự. Vì vậy, những người tiền THA phải định kỳ kiểm tra huyết áp ít nhất 1 năm/lần [49]. Chẩn đoán tăng huyết áp Chẩn đoán xác định THA dựa vào trị số huyết áp đo được đúng quy trình.

Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng phương pháp đo [5]. Phương pháp đo huyết áp Huyết áp tâm Huyết áp tâm Phương pháp đo thu trương 1. Đo tại phòng khám hoặc bệnh viện: đo 2-3 lần, mỗi lần ≥ 140 mmHg ≥ 90 mmHg đo ít nhất 2 lượt 2. Đo bằng máy đo huyết áp Holter 24 giờ (trung bình cả ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg ngày) 3.

Đo tại nhà: tự do nhiều lần ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg *Cách thức đo huyết áp: Sử dụng HA kế thủy ngân, và đo theo các nguyên tắc sau Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5-10 phút trước khi đo HA. Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó 2 giờ. Tư thế đo chuẩn: người được đo HA ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Ngoài ra, có thể đo ở các tư thế nằm, 5 đứng.

Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh ĐTĐ, đo thêm HA tư thế đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không. Không nói chuyện khi đang đo HA. Lần đo đầu tiên, cần đo HA ở cả hai cánh tay, tay nào có con số HA cao hơn sẽ dùng để theo dõi HA về sau. Đo HA ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút.

Nếu số đo HA giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10 mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị HA ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng. Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 126/82 mmHg), không làm tròn số quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo. Xử trí sau khi đo huyết áp lần đầu Huyết áp Huyết áp tâm thu tâm trương Thái độ xử trí (mmHg) (mmHg) < 130 < 85 Kiểm tra lại trong vòng 2 năm 130-139 85-89 Kiểm tra lại trong vòng 1 năm 140-159 90-99 Khẳng định lại chẩn đoán trong vòng 2 tháng 160-179 100-109 Điều trị và đánh giá lại trong vòng 1 tháng ≥ 180 ≥ 110 Lập tức điều trị và đánh giá ngay 1.

Dự phòng tăng huyết áp Áp dụng thay đổi lối sống cho mọi bệnh nhân THA hoặc người có HA bình thường cao hoặc tiền sử gia đình THA rõ. Tác dụng của phương thức này 6 tương đương với uống một loại thuốc và hiệu quả tăng lên khi kết hợp nhiều cách thay đổi lối sống. Tuy nhiên để đạt được và duy trì được sự thay đổi lối sống là khó khăn, để khắc phục điều này cần nguồn chi phí rất lớn [46]. Bảng can thiệp thay đổi lối sống làm giảm huyết áp Cách thức Khuyến nghị Khoảng HA hạ Duy trì chỉ khối cân nặng lý tưởng 5-10 mmHg khi Giảm cân nặng (20-25kg/m2 ) giảm mỗi 10kg Ăn nhiều trái cây, rau, ít mỡ (giảm Chế độ ăn DASH chất béo toàn phần và các loại hòa 8-14mmHg tan) Giảm muối ăn < 100 mmol/ngày 2-8 mmHg Hạn chế muối ăn (2,4g Na hoặc 6g muối) Khuyến khích thể dục nhịp điệu mức Vận động thân thể 4-9 mmHg độ vừa như đi bộ 30 phút/ngày Uống chất có cồn Nam < 21 đơn vị/tuần 2-4 mmHg điều độ Nữ < 14 đơn vị/tuần 1.

Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp * THA nguyên phát: Chiếm 95% tổng số người bệnh THA, cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát chưa rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau có thể gây THA nguyên phát [39]: 1) Tăng hoạt động của thần kinh giao cảm; 2) Vai trò của hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA); 3) Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh THA; 4) Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và Kallikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu. 7 * THA thứ phát: Khoảng 5% người bệnh THA có nguyên nhân rõ ràng: - THA do bệnh thận và dị dạng máu thận. - Cường aldosterone và hội chứng Cushing. - U tủy thượng thận: Chiếm 1-2% tổng số người bệnh THA thứ phát.

- Hẹp ep động mạch chủ: THA ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở phần sau chỗ hẹp. - THA ở phụ nữ mang thai: bệnh THA xuất hiện hoặc nặng lên trong giai đoạn thai kỳ và là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹ cũng như thai nhi. - Sử dụng oestrogen: sử dụng thuốc tránh thai kéo dài sẽ gây THA vì oestrogen gây tăng tổng hợp tiền chất renin. Biến chứng của Tăng huyết áp Bệnh THA tiến triển lâu ngày sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều cơ quan trong cơ thể được gọi là những cơ quan đích và gây nhiều biến chứng nặng nề.

Tai biến mạch máu não (đột quỵ) Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa đột quỵ là sự tiến triển nhanh chóng các triệu chứng lâm sàng của mất chức năng não toàn thể hoặc một phần, với các dấu hiệu kéo dài 24h hoặc hơn 24h hoặc gây tử vong không do các nguyên nhân khác. Bệnh lý này ảnh hưởng đến gần 20 triệu người trên toàn thế giới, khoảng 1/4 bệnh nhân sẽ tử vong, đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba gây tử vong. Trong 15 triệu bệnh nhân đột quỵ còn sống sót, 1/3 sẽ bị tàn phế và quan trọng là khoảng 1/6 sẽ bị đột quỵ tái phát trong vòng 5 năm [9]. Suy tim, nhồi máu cơ tim Tăng huyết áp đã được coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng trong bệnh thiếu máu cơ tim do xơ vữa động mạch, người ta đã thấy nguy cơ tai biến mạch vành tăng song song với mức THA, nghiên cứu của Framingham (Hoa kỳ) đã cho thấy nguy cơ đó tăng lên đến 4 lần nếu HA tâm thu từ 120 lên 180 mmHg.

Nhiều nghiên cứu ở các nước trong những năm 8 qua cũng khẳng định chỉ riêng thất trái to do bệnh THA cũng làm tỉ lệ tai biến tim mạch và tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch [39]. Phình tách thành động mạch Thành động mạch chủ gồm 3 lớp. Phình tách động mạch chủ là tình trạng cần điều trị cấp cứu. Nếu rách toàn bộ thành động mạch chủ sẽ dẫn tới chảy máu ồ ạt và bệnh nhân tử vong nhanh chóng [46].

Suy thận Có mối liên quan mật thiết giữa THA và thận, tỷ lệ THA tăng đi kèm với sự giảm đi chức năng thận, khoảng 80-90% bệnh nhân thận giai đoạn cuối có kèm theo THA. Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân bị tăng huyết áp tiên phát tiến triển thành bệnh thận mạn, tỷ lệ mới mắc suy thận tăng lên khi huyết áp tâm thu tăng lên mỗi 10 mmHg [46] 1. Tổn thương mắt Tổn thương đáy mắt và bệnh lý võng mạc trong bệnh THA liên quan trực tiếp với sự gia tăng HA. THA gây hẹp động mạch võng mạc lan tỏa nhưng không đều, tiến triển gây xuất huyết và phù gai thị.

Trong nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Anh Tú và Lê Minh Tuấn thì tỷ lệ tổn thương võng mạc của bệnh nhân THA: bắt chéo tĩnh-động mạch chiếm 38,3%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 89,8%; hẹp tiểu động mạch khu trú 13,3%, xuất huyết võng mạc 22,6%, xuất tiết 19,5%, nốt dạng bông 14,6% và phù gai 8,6% [40]. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới Từ năm 2000, các báo cáo quốc gia đã chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong khi đó là ổn định hoặc giảm ở các nước thu nhập cao và THA là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Phòng ngừa, phát hiện, điều trị và kiểm soát tình trạng này nên được ưu tiên cao [55].

Tuy nhiên, các ước tính 9 hiện tại về gánh nặng do tăng huyết áp gây nên vẫn là mối quan ngại đối với sức khỏe cộng đồng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới hiện nay bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu của tử vong không những ở các quốc gia đã phát triển mà ngay cả quốc gia đang phát triển. Tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới (17 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung ở các quốc gia đang phát triển. Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp được công bố rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, khoảng từ 3,4% trong số nam giới sống ở nông thôn tại các nước đang phát triển như Ấn Độ, Serbia, đến 72,5% phụ nữ ở nước phát triển như Ba Lan.

Tại phần lớn những nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ hiện mắc THA khoảng 20-50% [63], [62]. Theo dữ liệu điều tra của NHANES ở Hoa kỳ giai đoạn 1999-2000, tỷ lệ THA ở nam là 27,1% và 30,1% ở nữ xét trên quần thể người Mỹ trưởng thành. Còn ở các nước Châu Âu như Tây Ban Nha tỷ lệ này là 49,1% và 43,2% ở thành thị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ