Thực trạng chất lượng sống bệnh nhân đái tháo đường biến chứng tại Thái Nguyên

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng tại Thái Nguyên, cung cấp số liệu thực trạng và các yếu tố liên quan.

Chuyên ngành

Y Học Dự Phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Y học

2021

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Về Chất Lượng Sống Người Đái Tháo Đường Có Biến Chứng

Chất lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng là một khái niệm toàn diện, bao gồm các khía cạnh về sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội và kinh tế. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh các nền văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống, và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn cũng như những lo lắng của họ. Bệnh nhân đái tháo đường phải đối mặt với nhiều thách thức về quản lý bệnh, điều trị dài hạn và các biến chứng nghiêm trọng. Việc hiểu rõ chất lượng sống của họ là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc sức khỏe.

1.1. Định Nghĩa Đái Tháo Đường Và Biến Chứng

Đái tháo đường là bệnh chuyển hóa mãn tính với tỷ lệ mắc ngày càng gia tăng toàn cầu. Bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 85-90% tổng số trường hợp. Biến chứng của đái tháo đường bao gồm các biến chứng vi mạch (bệnh thận, bệnh mắt) và biến chứng vĩ mạch (bệnh tim mạch, đột quỵ). Những biến chứng này làm giảm đáng kể chất lượng sống của bệnh nhân.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Chất Lượng Sống Trong Điều Trị

Chất lượng sống không chỉ phản ánh hiệu quả điều trị mà còn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện sức khỏe của bệnh nhân đái tháo đường. Cải thiện chất lượng cuộc sống đòi hỏi phối hợp quản lý lâm sàng, tâm lý xã hội và hỗ trợ cộng đồng.

II. Thực Trạng Chất Lượng Sống Của Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Có Biến Chứng

Nghiên cứu tại Trung tâm Y tế thành phố Thái Nguyên cho thấy chất lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng bị ảnh hưởng đáng kể bởi nhiều yếu tố. Điểm chất lượng cuộc sống chung của đối tượng nghiên cứu thay đổi theo các đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế và lâm sàng. Bệnh nhân đái tháo đường với biến chứng gặp khó khăn trong các hoạt động hàng ngày, công việc và cuộc sống xã hội. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào loại biến chứng, thời gian bệnh, kiểm soát đường huyết (thông qua chỉ số HbA1c, BMI) và tuân thủ điều trị. Các biến chứng như bệnh thận mạn tính, bệnh mắt đái tháo đường và bệnh tim mạch làm giảm đáng kể chất lượng sống.

2.1. Ảnh Hưởng Của Biến Chứng Đến Chất Lượng Sống

Số lượng biến chứng càng nhiều, chất lượng sống của bệnh nhân càng giảm. Biến chứng vi mạch (bệnh thận, bệnh mắt) và biến chứng vĩ mạch ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lao động, tham gia xã hội và tâm lý bệnh nhân. Chất lượng cuộc sống liên quan chặt chẽ đến mức độ kiểm soát bệnh và tuân thủ điều trị.

2.2. Vai Trò Của Kiểm Soát Đường Huyết Và Chỉ Số HbA1c

Kiểm soát đường huyết không tốt (chỉ số HbA1c cao) liên quan đến sự gia tăng biến chứng và giảm chất lượng sống. Bệnh nhân đái tháo đường cần duy trì HbA1c trong mục tiêu để phòng ngừa biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống lâu dài.

III. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Chất Lượng Sống

Chất lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đa chiều. Các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân đều có mối liên quan với chất lượng cuộc sống. Khả năng tài chính là yếu tố quan trọng, vì bệnh đòi hỏi chi phí điều trị và quản lý lâu dài. Thời gian phát hiện bệnh, thời gian điều trị, phương pháp điều trị và mức độ tuân thủ điều trị cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống. Bệnh nhântuân thủ điều trị tốt thường có chất lượng cuộc sống cao hơn. Các chỉ số sinh học như BMI, đường huyết lúc đói và HbA1c phản ánh mức độ kiểm soát bệnh.

3.1. Yếu Tố Nhân Khẩu Học Và Kinh Tế

Tuổi cao, giới tính nữ, trình độ học vấn thấp và khả năng tài chính hạn chế làm giảm chất lượng sống. Bệnh nhân sống một mình hoặc không có người chăm sóc cũng gặp khó khăn hơn. Hỗ trợ gia đình và cộng đồng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường.

3.2. Yếu Tố Lâm Sàng Và Tuân Thủ Điều Trị

Mức độ tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định trong việc kiểm soát bệnh và phòng ngừa biến chứng. Bệnh nhân được quản lý, điều trị tại các trung tâm y tế chuyên sâu có chất lượng sống tốt hơn. Các phương pháp điều trị kết hợp (insulin, thuốc uống) cần sự tuân thủ cao từ bệnh nhân.

IV. Các Biện Pháp Cải Thiện Chất Lượng Sống

Cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng cần có chiến lược toàn diện, bao gồm quản lý bệnh lâm sàng, hỗ trợ tâm lý xã hội và can thiệp cộng đồng. Cần tăng cường giáo dục cho bệnh nhân về kiểm soát đường huyết, chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập thể dục thường xuyên và tuân thủ điều trị. Các trung tâm y tế cần cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện, bao gồm tư vấn dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý và quản lý bệnh mạn tính. Hỗ trợ tài chính cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn là cần thiết. Phát hiện sớm và quản lý hiệu quả biến chứng giúp duy trì chất lượng cuộc sống. Tham gia nhóm hỗ trợ bệnh nhân, gia đình và cộng đồng có vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi.

4.1. Giáo Dục Và Quản Lý Bệnh Lâm Sàng

Giáo dục bệnh nhân đái tháo đường về kiểm soát đường huyết, chế độ dinh dưỡng, tập thể dục và tuân thủ điều trị là nền tảng. Quản lý định kỳ chỉ số HbA1c, BMI và các yếu tố nguy hiểm khác giúp phòng ngừa biến chứng. Phát hiện sớm biến chứng thông qua khám sàng lọc định kỳ.

4.2. Hỗ Trợ Tâm Lý Xã Hội Và Cộng Đồng

Tư vấn tâm lý, nhóm hỗ trợ bệnh nhân giúp bệnh nhân đái tháo đường giảm stress và lo lắng. Sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng tăng cường tuân thủ điều trị. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng giúp cải thiện chất lượng sống toàn diện.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ngày càng tăng nhanh, theo dữ liệu mới nhất năm 2019 từ Liên đoàn Bệnh đái tháo đường Quốc tế ước tính đưa ra con số là 463 triệu người sống chung với bệnh đái tháo đường [32]. đái tháo đường được dự đoán là 643 triệu người mắc vào năm 2030 [30]. Bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 85-90% tổng số trường hợp [43] và tỷ lệ lưu hành bệnh đái tháo đường týp 2 trên toàn cầu được dự báo sẽ tăng lên 7.000 người vào năm 2030 điều này phản ánh sự gia tăng liên tục bệnh đái tháo đường ở tất cả các khu vực trên thế giới. Các nước đang phát triển có xu hướng gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao hơn các nước phát triển [40].

Tại Châu Á, bệnh đái tháo đường tăng nhanh ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển ví dụ như Thái Lan tỷ lệ mắc bệnh năm 2004 là 7,7%, đến năm 2014 tăng lên 9. Hàn Quốc tăng từ 1,5% năm 1971 lên 9,9% năm 2011, ước tính tăng lên 11,4% vào năm 2030 [26]. Tại Việt Nam tỷ lệ bệnh tăng từ 2,7% năm 2002 đến năm 2012 là 5,42% [1]. Bệnh đái tháo đường có nhiều biến chứng như bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương hoặc hoại tử [8, 43] … Nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng là thấp hơn so với nhóm người khỏe mạnh, và các biến chứng dù nhẹ nhất cũng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường [20], [27], [29].

Ở Việt Nam, chất lượng cuộc sống của đối tượng này cũng thấp hơn so với nhóm không có biến chứng [2], [6], [7]. Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng bao gồm: tuổi, giới, BMI, việc tuân thủ kiểm soát đường huyết, thời gian mắc bệnh, số lượng biến chứng, trình độ học vấn, kinh tế gia đình [25] [28] [29]. Ở Việt Nam, các yếu tố giới, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, chỉ số đường huyết, 2 loại biến chứng, thời gian bị bệnh, phương pháp điều trị ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhóm bệnh nhân này [3], [7], [12]. Cùng với sự gia tăng số người đái tháo đường, số người có biến chứng của bệnh đái tháo đường cũng tăng lên [60].

Trong các nhóm biến chứng hay gặp số mắc biến chứng về tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất. Báo cáo bệnh đái tháo đường ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Úc và Nhật Bản, các nghiên cứu đã ước tính rằng từ 15% đến 41% người trung niên mắc bệnh đái tháo đường có biến chứng tim mạch. Nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trước đây đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, sự thay đổi của phác đồ, sự thay đổi thuốc điều trị và các loại can thiệp thì câu hỏi đặt ra là yếu tố nào ảnh hưởng liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng.

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu. “ Thực trạng chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng đƣợc quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả CLCS của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng được quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên năm 2021. Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng được quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế Thành phố Thái Nguyên.

Một số khái niệm, định nghĩa 1. Định nghĩa đái tháo đƣờng (ĐTĐ) ĐTĐ là nhóm của các bệnh chuyển hóa, có đặc điểm tăng đường huyết mạn tính phối hợp với rối loạn chuyển hóa carbohydrat, lipid, protein do thiếu hụt về tiết insulin, về tác động của insulin hoặc cả hai [4]. Tăng đường huyết kéo dài sẽ kéo theo những tổn thương, rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Biến chứng của bệnh ĐTĐ ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp, mạn tính và bệnh nhân có thể tử vong do các biến chứng này.

Tỷ lệ biến chứng của bệnh ĐTĐ khá cao, theo một nghiên cứu ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng là 67,7%, phần lớn các biến chứng phát hiện được sau 5 năm bị bệnh [3]. Biến chứng cấp tính Biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ bao gồm hôn mê do nhiễm toan ceton và hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu - Hôn mê do nhiễm toan ceton: thường gặp ở ĐTĐ týp 1 hơn ĐTĐ týp 2 [22]. Khi insulin thiếu, quá trình chuyển hóa glucose tại gan bị ức chế, dẫn tới chuyển hóa acid béo trong cơ thể bị rối loạn, sản phẩm trung gian đó là ceton, nồng độ ceton tăng cao gây toan máu [11]. Nhiễm toan ceton có thể xảy ra khi nhiễm trùng, căng thẳng, hoặc chấn thương làm tăng nhu cầu insulin của cơ thể.

Các triệu chứng của nhiễm toan ceton do ĐTĐ bao gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, đau cơ hoặc yếu cơ. Nhiễm toan ceton là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên mắc ĐTĐ týp 1, chiếm một nửa số ca tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ dưới 24 tuổi, <1% đối với người trưởng thành và > 5% đối với người cao tuổi [22]. 4 - Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu: thường gặp ở ĐTĐ týp 2 nhiều hơn ĐTĐ týp 1 [21]. Tỷ lệ nhập viện vì hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu trong ĐTĐ thấp hơn so với hôn mê do nhiễm toan ceton (chiếm <1% tổng số ca nhập viện liên quan đến ĐTĐ).

Tuy nhiên, có thể ảnh hưởng đến 4% bệnh ĐTĐ týp 2 và tỷ lệ tử vong trong các trường hợp này lại cao (vượt quá 20% ở một số nhóm bệnh nhân) [21]. Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu đặc trưng bởi áp lực thẩm thấu máu hữu dụng tăng cao (> 320 mOsm/kg) do đường huyết tăng cao > 33 mmol/L (> 600 mg/dl) với tình trạng nhiễm ceton máu không hiện diện hay hiện diện không đáng kể[11]. Tỷ lệ hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu trong ĐTĐ thay đổi từ 15% đến 45%, xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó phổ biến hơn ở những bệnh nhân cao tuổi có thêm bệnh đi kèm (như nhiễm trùng, bệnh tim mạch và ung thư) [21]. Đặc biệt lưu ý ở những bệnh nhân lớn tuổi thường có nhiều bệnh lý khác kèm theo như tim mạch, bệnh lý thần kinh, chức năng thận và chức năng gan bị suy giảm nên các biến chứng cấp tính xảy ra thường nặng và tỷ lệ tử vong cao hơn người trẻ.

Biến chứng mạn tính a) Biến chứng tim mạch Bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ là biến chứng thường gặp và nguy hiểm. Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác. Người ĐTĐ có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường. Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử vong ở người bệnh ĐTĐ, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất.

Theo một phân tích từ 57 bài báo về các bệnh kèm theo ĐTĐ typ 2, bệnh tim mạch chiếm 32,2% , trong đó 29,1% bị xơ vữa động mạch, 21,2% bị bệnh mạch vành, suy tim 14,9% , 14,6% đau thắt 5 ngực, nhồi máu cơ tim 10,0% và 7,6% đột quỵ. Bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong ở 9,9% bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có bệnh kèm theo (chiếm 50,3% tổng số ca tử vong) [51]. Người ĐTĐ có bệnh lý mạch vành tăng gấp 2-3 lần người không ĐTĐ [8]. Nghiên cứu ở bệnh viện thành phố Thái Bình trên bệnh nhân ĐTĐ cho kết quả: bệnh động mạch ngoại vi là 10,7%; bệnh tim thiếu máu cục bộ là 9,5% [10].

Nghiên cứu của Chu Thị Hương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy trong số các bệnh nhân có biến chứng,biến chứng tim mạch 5,2% [3]. b) Biến chứng thận Biến chứng thận do ĐTĐ là một trong những biến chứng thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian. Bệnh thận do ĐTĐ khởi phát bằng protein niệu; sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ tích tụ trong máu. Khả năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ít hơn so với bệnh nhân ĐTĐ týp 1, song số lượng bệnh nhân ĐTĐ týp 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chủ yếu là bệnh nhân ĐTĐ týp 2.

Để theo dõi bệnh thận ĐTĐ, nhiều phòng xét nghiệm chọn phương pháp định lượng protein niệu trong mẫu nước tiểu qua đêm. Nghiên cứu ở bệnh viện thành phố Thái Bình trên bệnh nhân ĐTĐ cho kết quả: protein niệu 23,2%, trong đó suy thận gặp 6,3% trường hợp [10]. Nghiên cứu của Chu Thị Hương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy trong số các bệnh nhân có biến chứng, biến chứng thận chiếm 31,2% [3]. c) Biến chứng mắt Biến chứng võng mạc ĐTĐ thường xuất hiện sau 5 năm ở ĐTĐ typ 1 và ở tất cả các bệnh nhân ĐTĐ typ 2.

Bệnh lý võng mạc ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu của mù ở người 20 - 60 tuổi. Bệnh biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù loà. 6 Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, do tăng glucose máu làm tăng tạo sorbitol thay đổi tính thẩm thấu thủy tinh thể xơ hóa thủy tinh thể gây đục thủy tinh thể. Glaucoma xảy ra ở 6% bệnh nhân ĐTĐ, thường là glaucoma góc mở.

Nghiên cứu ở bệnh viện thành phố Thái Bình trên bệnh nhân ĐTĐ cho kết quả: bệnh võng mạc 5,4%; đục thủy tinh thể 10,7% [10]. Nghiên cứu của Chu Thị Hương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy trong số các bệnh nhân có biến chứng,biến chứng mắt chiếm 61,5% [3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ