Nghiên cứu về phòng chống Sốt xuất huyết tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh

Tổng quan kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết. Phân tích các yếu tố liên quan đến biện pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả.

Chuyên ngành

Y học Dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ y học

2022

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đặc Điểm và Dịch Tễ Học Bệnh Sốt Xuất Huyết

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi-rút Dengue gây ra, lây truyền chủ yếu qua muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus. Bệnh này đã trở thành mối đe dọa sức khỏe công cộng toàn cầu với hàng triệu ca mắc mỗi năm. Tại Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến, đặc biệt ở các khu vực có khí hậu nóm ẩm. Virus Dengue có 4 chủng huyết thanh khác nhau, nhiễm một chủng có thể miễn dịch suốt đời với chủng đó, nhưng người bệnh vẫn có nguy cơ mắc các chủng khác. Hiểu rõ đặc điểm dịch tễ học giúp cải thiện chiến lược phòng chống sốt xuất huyết hiệu quả.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng của Bệnh

Triệu chứng sốt xuất huyết thường xuất hiện sau 3-14 ngày sau khi bị muỗi nhiễm virus cắn. Các triệu chứng chính bao gồm sốt cao, đau đầu, đau xương, đau cơ, nổi ban, mệt mỏi và chảy máu nhẹ. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết kèm biến chứng có thể dẫn đến sốc và tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc nhận biết sớm các triệu chứng giúp bệnh nhân được chăm sóc tốt hơn.

1.2. Tình Hình Dịch Tễ Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết xảy ra quanh năm với đỉnh dịch vào mùa mưa (tháng 5-10). Các tỉnh phía Bắc và Trung Việt Nam ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao, với các vụ dịch lặp lại hàng năm. Nghiên cứu tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh cho thấy kiến thức về phòng chống sốt xuất huyết của cộng đồng còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác phòng chống dịch.

II. Kiến Thức và Nhận Thức Cộng Đồng Về Phòng Chống

Kiến thức về phòng chống sốt xuất huyết của cộng đồng là nền tảng quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh. Nghiên cứu cho thấy nhiều người dân còn chưa hiểu rõ về phương thức lây truyền bệnh, biểu hiện lâm sàng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Thái độ đối với bệnh sốt xuất huyết của người dân có ảnh hưởng lớn đến hành vi phòng chống. Những người có thái độ tích cực, nhận thức được tính nguy hiểm của bệnh thường thực hiện tốt các biện pháp phòng chống như vệ sinh môi trường và loại trừ nơi sinh sản của muỗi. Cải thiện kiến thức sốt xuất huyết qua các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe là chìa khóa để nâng cao nhận thức cộng đồng.

2.1. Kiến Thức Về Phương Thức Lây Truyền

Hầu hết người dân biết rằng bệnh sốt xuất huyết lây qua muỗi, tuy nhiên họ còn thiếu hiểu biết về điều kiện sinh sản của muỗi Aedes và thời gian hoạt động của chúng. Muỗi Aedes sinh sản trong các vật chứa nước sạch ở gần nhà, hoạt động vào ban ngày. Nhiều hộ gia đình chưa biết rằng cả những vật chứa nước nhỏ như chậu hoa, lon tôn cũng có thể là nơi sinh sản của muỗi.

2.2. Nhận Thức Về Tầm Quan Trọng Phòng Chống

Những người từng mắc sốt xuất huyết hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh thường có nhận thức sâu hơn về nguy hiểm của bệnh. Họ chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống như bọc lưới cửa, sử dụng quần áo che phủ toàn thân, và duy trì vệ sinh môi trường sạch sẽ. Tuyên truyền hiệu quả từ cán bộ y tế giúp nâng cao nhận thức này trong cộng đồng.

III. Thực Hành Phòng Chống Bệnh Sốt Xuất Huyết

Thực hành phòng chống sốt xuất huyết là những hành động cụ thể mà cộng đồng thực hiện để giảm nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, hiện nay còn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa kiến thức lý thuyết và thực hành thực tế. Nhiều người dân biết về bệnh nhưng chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống trong cuộc sống hàng ngày. Các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết chủ yếu gồm: loại bỏ các nơi sinh sản của muỗi, sử dụng các phương tiện che phủ như màn, lưới cửa, và sử dụng thuốc xịt côn trùng. Mức độ thực hành tốt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, độ tuổi, nghe thông tin từ cán bộ y tế và sự hỗ trợ của chương trình phòng chống dịch.

3.1. Biện Pháp Vệ Sinh Môi Trường

Vệ sinh môi trường là biện pháp phòng chống sốt xuất huyết hiệu quả nhất. Người dân cần loại bỏ định kỳ các vật chứa nước không cần thiết, làm sạch và thay nước các vật chứa nước cần sử dụng ít nhất 2 lần/tuần. Các chỉ số theo dõi như chỉ số nhà có muỗi (CSNCM), chỉ số Breteau (BI), chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy (CSNBG) giúp đánh giá hiệu quả công tác phòng chống tại cộng đồng.

3.2. Biện Pháp Bảo Vệ Cá Nhân

Bảo vệ cá nhân bao gồm sử dụng quần áo dài, mũ, sử dụng thuốc xua muỗi có chứa DEET hoặc picaridin. Bọc lưới cửa sổ, sử dụng màn ngủ tại các khu vực có nhiều muỗi cũng là biện pháp quan trọng. Những người thực hiện tốt các biện pháp này có nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết giảm đáng kể.

IV. Các Yếu Tố Liên Quan và Chiến Lược Cải Thiện

Nhiều yếu tố liên quan đến phòng chống sốt xuất huyết ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Các yếu tố này bao gồm: trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, và tiếp cận thông tin từ các cán bộ y tế. Những người có trình độ học vấn cao hơn thường có kiến thức và thực hành tốt hơn. Tương tự, những người được tiếp xúc trực tiếp với thông tin từ trạm y tế xã hoặc nhân viên y tế có khả năng thực hành phòng chống bệnh tốt hơn. Để nâng cao hiệu quả phòng chống sốt xuất huyết, cần phối hợp giữa các cấp chính quyền, cán bộ y tế, và cộng đồng, với các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe thường xuyên, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

4.1. Vai Trò của Cán Bộ Y Tế và Truyền Thông

Cán bộ y tế đóng vai trò quan trọng trong truyền thông giáo dục sức khỏe về sốt xuất huyết. Những người được nghe thông tin trực tiếp từ nhân viên y tế có kiến thức và thực hành tốt hơn. Trạm y tế xã cần triển khai các chương trình phòng chống định kỳ, hướng dẫn cộng đồng nhận biết triệu chứng, biến chứng, và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

4.2. Chiến Lược Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng

Cần phát triển các chương trình phòng chống sốt xuất huyết lâu dài, tập trung vào tăng cường kiến thức qua truyền thông đa hình thức. Hợp tác với các tổ chức cộng đồng, nhóm phụ nữ, và lãnh đạo địa phương để tuyên truyền phòng chống sốt xuất huyết hiệu quả và bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus Dengue gây nên, bệnh lây theo đường máu với trung gian truyền bệnh chủ yếu là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng, thể nặng có biểu hiện sốc do giảm khối lượng tuần hoàn rối loạn đông máu, suy tạng; nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong [7]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, sốt xuất huyết đã tăng gấp 30 lần trong 50 năm qua; ước tính mỗi năm có 50-100 triệu ca nhiễm sốt xuất huyết xảy ra trên toàn thế giới [65]. Việt Nam là nước nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của sốt xuất huyết với tỉ lệ mắc và tử vong tương đối cao.

Tích lũy năm 2021, cả nước ghi nhận 70.944 trường hợp mắc, 22 tử vong tại Bình Phước (6), TPHCM (4), Đồng Nai (2), Bình Dương (2), Phú Yên (2), Bà Rịa - Vũng Tàu (1), Sóc Trăng (1), Tây Ninh (2), Bình Thuận (1), Đắk Lắk (1) [10]. Cho đến nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy hoạt động kiểm soát véc tơ truyền bệnh, diệt lăng quăng (bọ gậy) là biện pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng chống sốt xuất huyết [4], [7], [12]. Để thực hiện tốt hoạt động này, đòi hỏi người dân phải có kiến thức, thái độ và thực hành đúng trong phòng chống bệnh. Thực tế cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành của người dân trong việc phòng chống sốt xuất huyết còn nhiều bất cập.

Theo Elson William H và cs (2020), chỉ có 54,2% số người được hỏi biết bệnh sốt xuất huyết do muỗi truyền và 51,7% có thể xác định được sốt và một triệu chứng chính xác khác của bệnh sốt xuất huyết [47]. Nghiên cứu của Selvarajoo Sivaneswari và cs (2020) thấy có 50,7% người dân có kiến thức không đầy đủ về bệnh sốt xuất huyết; 53,2% người dân có thái độ không tốt và 50,2% thực hành phòng chống sốt xuất huyết kém [56]. Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có nguy cơ cao mắc sốt xuất huyết. 2 Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, năm 2017, ghi nhận 194 ca sốt xuất huyết tại 13/13 huyện, thị xã, thành phố.

Năm 2018, ghi nhận 27 ca mắc sốt xuất huyết tại 10/13 huyện, thị xã, thành phố. Năm 2019-2020 ghi nhận 247 ca mắc sốt xuất huyết tại 9/13 huyện, thị xã, thành phố [32], [33], [34]. Xã Kỳ Văn là xã bán sơn địa của huyện Kỳ Anh với dân số 6. Năm 2017, ghi nhận 194 ca SXHD ở 13/13 huyện, thị xã, thành phố; trong đó có ổ dịch tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh với 13 ca mắc [32].

Với chu kỳ của dịch SXH khoảng 3-5 năm một lần; giả thuyết đặt ra là năm 2021, dịch SXH có thể bùng phát trở lại tại xã Kỳ Văn, do đó, việc phòng chống SXH của người dân tại địa bàn là cực kỳ quan trọng. Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay ra sao? Yếu tố nào liên quan đến việc thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh? Việc tìm hiểu câu trả lời sẽ cung cấp bằng chứng khoa học cho hoạt động phòng chống sốt xuất huyết trên địa bàn cũng như đề xuất các giải pháp hiệu quả trong công tác dự phòng. Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh và một số yếu tố liên quan”, với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh năm 2021.

Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm chung về bệnh sốt xuất huyết Dengue Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do virus Dengue gây nên, bệnh được lan truyền từ người bệnh sang người lành thông qua vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi A. Bệnh lưu hành ở các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới như vùng châu Phi, vùng phía đông Địa Trung Hải, khu vực Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam với các triệu trứng lâm sàng như sốt nhẹ, sốt cao, đau khớp, kèm theo xuất huyết dưới da, xuất huyết nội tạng, sốc và có thể gây tử vong.

Trong 50 năm qua, số ca mắc sốt xuất huyết (SXH) tăng 30 lần với gia tăng các vùng bị nhiễm mới trong những năm gần đây, phân bố từ thành phố đến nông thôn. Ước tính toàn cầu có khoảng 50 triệu ca SXH xảy ra hàng năm và khoảng 2,5 tỉ người sống tại các quốc gia có bệnh lưu hành [3]. Khái niệm bệnh sốt xuất huyết Dengue SXHD là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây nên, bệnh lây theo đường máu với trung gian truyền bệnh là muỗi A. Đây là dịch bệnh lưu hành địa phương ở Việt Nam, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven biển miền Trung.

Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp diễn và xuất huyết với nhiều dạng khác, thể nặng có biểu hiện sốc do giảm khối lượng tuần hoàn rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong [4], [7]. Nguyên nhân gây bệnh sốt xuất huyết SXHD do bốn loại virus khác nhau gây nên, bao gồm: DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Khi cơ thể nhiễm với một loại virus thì cơ thể có khả năng 4 miễn dịch suốt đời chống lại với loại virus đó; tuy nhiên khả năng miễn dịch chéo đối với các loại virus khác sau khi hồi phục chỉ mang tính tạm thời và một phần [7]. Thời kỳ ủ bệnh và đường lây truyền Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày, trung bình 5-7 ngày.

Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút. Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời [4]. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn. Sau khi khỏi bệnh sẽ được miễn dịch suốt đời với típ vi rút Dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch bảo vệ chéo với các típ vi rút Dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn và dễ sốc Dengue [4].

Các biện pháp dự phòng lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Giám sát véc tơ phòng bệnh Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh, sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với các hóa chất diệt côn trùng và đánh giá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng [4]. * Giám sát muỗi trưởng thành Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay. Soi bắt muỗi cái đậu nghĩ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhà vào ban ngày, mỗi nhà soi bắt muỗi 15 phút.

Số nhà điều tra cho mỗi điểm là 50 nhà, điều tra 1 lần/ tháng [4]. Sử dụng 2 chỉ số dưới đây để giám sát muỗi A. - Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra 5 Số muỗi cái Aedes bắt được CSMĐ (con/nhà) = Số nhà điều tra - Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) là tỉ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Aedes trưởng thành Số nhà có muỗi cái Aedes CSNCM(%) = x 100 Số nhà điều tra * Giám sát lăng quăng/bọ gậy - Giám sát thường xuyên: 1 tháng 1 lần cùng với giám sát muỗi trưởng thành. Sau khi bắt muỗi, tiến hành điều tra lăng quăng/bọ gậy bằng quan sát, thu thập, ghi nhận và định loại ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà.

- Giám sát ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn: Phương pháp này dựa vào kết quả đếm toàn bộ số lượng lăng quăng/bọ gậy Aedes trong các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau để xác định nguồn phát sinh chủ yếu và độ tập trung của lăng quăng/ bọ gậy của từng địa phương theo mùa trong năm hoặc theo từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòng chống véc tơ thích hợp. - Xác định ổ lăng quăng/ bọ gậy nguồn sẽ tiến hành theo đơn vị tỉnh, điều tra trong những xã điểm 2 lần/năm. Mỗi lần điều tra 100 nhà (phân bố trong các xã, phường trọng điểm) (lần 1 thực hiện vào quý I-II, lần 2 thực hiện vào quý III-IV). Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi lăng quăng/bọ gậy của muỗi A.albopictus (tính theo từng loài): a) Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy (CSNBG) là tỉ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes: CSNBG (%) = Số nhà có loăng quăng/bọ gậy Aedes x 100 6 Số nhà điều tra b) Chỉ số dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy (CSDCBG) là tỉ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy Aedes: Số DCCN có loăng quăng/bọ gậy Aedes CSDCBG (%) = x 100 Số DCCN điều tra c) Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra.

Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau: Số DCCN có loăng quăng/bọ gậy Aedes BI = x 100 Số nhà điều tra d) Chỉ số mật độ lăng quăng/bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng lăng quăng/bọ gậy trung bình cho 1 nhà điều tra. Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn Số loăng quăng/bọ gậy Aedes thu được CSMĐBG (con/nhà) = x 100 Số nhà điều tra Trong quá trình giám sát véc tơ (muỗi, lăng quăng/bọ gậy), nếu CSMĐ muỗi cao (0,5 con/nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI) 30 là yếu tố nguy cơ cao. Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (0,5 còn/nhà) hoặc chỉ số BI 20 là yếu tố nguy cơ cao của SXH [4]. Biện pháp diệt loăng quăng/bọ gậy và phòng muỗi đẻ trứng Việc phòng chống SXHD tập trung giải quyết các khâu cơ bản sau: - Phát hiện, chẩn đoán và điều trị SXHD.

- Nghiên cứu vắc xin dự phòng. - Phòng, chống véc tơ truyền bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ