Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi tỉnh bình dương và đánh giá hiệu quả điều trị bằng gc fuji ii lc capsule

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi Bình Dương, đánh giá hiệu quả điều trị bằng GC Fuji II LC Capsule.

Chuyên ngành

Nha khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu khoa học

2015

198
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN

2.1. Đặc điểm cấu tạo tổ chức học răng

2.1.1. Men răng

2.1.2. Ngà răng

2.1.3. Tủy răng

2.1.4. Xê măng

2.1.4.1. Đặc điểm chung
2.1.4.2. Chức năng
2.1.4.3. Đặc điểm mô học
2.1.4.3.1. Các tế bào tạo Xê măng (cementoplast)
2.1.4.3.2. Các loại xê măng
2.1.4.3.3. Sợi Sharpey
2.1.4.4. Sinh lý

2.1.5. Giải phẫu vùng cổ răng

2.2. Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý người cao tuổi

2.2.1. Một số đặc điểm sinh lý

2.2.1.1. Biến đổi sinh lý chung

2.2.2. Hệ tim mạch

2.2.3. Hệ hô hấp

2.2.4. Hệ da, lông, tóc, móng

2.2.5. Hệ tiêu hóa

2.2.6. Hệ tiết niệu

Tóm tắt

I. Tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi

Tổn thương mòn cổ răng là một vấn đề phổ biến trong các bệnh lý răng miệng, đặc biệt ở người cao tuổi. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mòn cổ răng ở nhóm tuổi này lên tới 78,7% theo Lussi và Schaffner, và 95% theo Pegorago. Ở Việt Nam, tỷ lệ này là 91,7% theo Đặng Quế Dương. Tổn thương mòn cổ răng thường xảy ra ở răng hàm nhỏ và răng nanh, gây ê buốt, ảnh hưởng thẩm mỹ, và có thể dẫn đến gãy răng nếu không được điều trị kịp thời. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Nguyên nhân và đặc điểm

Tổn thương mòn cổ răng thường liên quan đến quá trình lão hóa, sự mài mòn do lực nhai, và các yếu tố môi trường như chế độ ăn uống. Men răng ở vùng cổ răng mỏng hơn, dễ bị tổn thương hơn so với các vùng khác. Ngoài ra, sự tích tụ mảng bám và cao răng ở vùng cổ răng cũng làm tăng nguy cơ mòn răng. Các nghiên cứu y học đã chỉ ra rằng tỷ lệ mòn cổ răng tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi.

1.2. Ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng

Tổn thương mòn cổ răng không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn gây ê buốt, khó chịu khi ăn uống. Khi mòn nghiêm trọng, tổn thương có thể lan đến tủy răng, gây viêm tủy hoặc thậm chí gãy răng. Điều này làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đòi hỏi các biện pháp điều trị kịp thời và hiệu quả.

II. Hiệu quả điều trị bằng GC Fuji II LC Capsule

GC Fuji II LC Capsule là một loại xi măng thủy tinh cải tiến, được sử dụng rộng rãi trong điều trị tổn thương mòn cổ răng. Nghiên cứu của Pedigao và cộng sự (2012) cho thấy độ lưu giữ của GC Fuji II LC Capsule đạt 100% sau 1 năm, cao hơn so với các vật liệu khác như Filtek Supreme Plus và Ketac Nano. Điều này chứng tỏ hiệu quả điều trị vượt trội của vật liệu này trong việc phục hồi tổn thương mòn cổ răng.

2.1. Ưu điểm của GC Fuji II LC Capsule

GC Fuji II LC Capsule có khả năng bám dính tốt, độ bền cao, và ít gây kích ứng cho tủy răng so với các vật liệu trám truyền thống như Composite. Ngoài ra, vật liệu này còn có khả năng giải phóng fluoride, giúp ngăn ngừa sâu răng thứ phát. Đây là lựa chọn lý tưởng cho việc điều trị tổn thương mòn cổ răngngười cao tuổi.

2.2. Kết quả thực nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm của Yassini (2012) cho thấy GC Fuji II LC Capsule có mức độ vi kẽ thấp hơn so với Composite, giảm nguy cơ viêm lợi và sâu răng thứ phát. Kết quả này khẳng định hiệu quả điều trị và tính ứng dụng cao của vật liệu này trong thực hành lâm sàng.

III. Nghiên cứu tại Bình Dương

Nghiên cứu được thực hiện tại Bình Dương nhằm đánh giá tình trạng răng miệnghiệu quả điều trị tổn thương mòn cổ răng bằng GC Fuji II LC Capsulengười cao tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ mòn cổ răng ở nhóm đối tượng này là rất cao, đặc biệt ở răng hàm nhỏ và răng nanh. Việc áp dụng GC Fuji II LC Capsule đã mang lại kết quả tích cực, giúp cải thiện đáng kể sức khỏe răng miệng của người cao tuổi.

3.1. Thực trạng tổn thương mòn cổ răng

Nghiên cứu tại Bình Dương cho thấy tỷ lệ tổn thương mòn cổ răngngười cao tuổi là 91,7%, tương đồng với các nghiên cứu trước đây. Tình trạng này chủ yếu xảy ra ở răng hàm nhỏ và răng nanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe răng miệng và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Việc sử dụng GC Fuji II LC Capsule trong điều trị tổn thương mòn cổ răng tại Bình Dương đã cho thấy hiệu quả điều trị vượt trội. Vật liệu này không chỉ giúp phục hồi tổn thương mà còn ngăn ngừa các biến chứng như viêm lợi và sâu răng thứ phát, mang lại kết quả lâu dài cho người bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi tỉnh bình dương và đánh giá hiệu quả điều trị bằng gc fuji ii lc capsule

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm cấu tạo tổ chức học răng Hình 1. Giải phẫu các thành phần của răng [19] 1. Men răng Men răng có nguồn gốc ngoại bì.

Men răng cũng là tổ chức cứng nhất của cơ thể, chứa nhiều muối vô cơ chiếm tỷ lệ 95% so với ngà và xương răng [19],[20]. Về mặt lý học: Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5 mm và ở vùng cổ răng men răng mỏng dần và ở tận cùng bằng một cạnh góc nhọn. Về mặt hóa học: Các chất vô cơ chủ yếu là hỗn hợp photpho canxi dưới dạng Apatit, đó là Hydroxyapatit [(PO4)2Ca3](OH)2 chiếm khoảng 90-95%. Còn lại là các muối cacbonat của Mg và một lượng nhỏ clorua, fluorua và sunfat của natri và kali.Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1%.Trong đó có protit chiếm một phần quan trọng.

Cấu trúc tổ chức học: Quan sát trên kính hiểnvi thấy 2 loại đường vân: + Đường Retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường 5 ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường Retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như mặt ngoài của men thành một góc nhọn. Đường Retzius tương ứng với giai đoạn ngấm vôi kém trong quá trình tạo men. + Đường trụ men: Trụ men là đơn vị cơ bản tạo nên lớp men.

Trụ men chạy suốt chiều dài men răng, từ đường ranh giới men ngà cho đến bề mặt của men răng. Hướng trụ men thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men. Sự đổi hướng đi của trụ men rõ ở vùng men gần lớp ngà, ở giữa lớp men sự đổi hướng giảm và chấm dứt ở 1/3 ngoài của men, từ đây trụ men chạy song song với nhau cho đến khi gặp mặt ngoài của răng theo góc vuông. Hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter – Schreger.

Trụ men có đường kính từ 3- 6m, khi cắt ngang trụ men thấy tiết diện của nó có các loại: Hình thể vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%. Hình ảnh vi thể trụ men [19] - Cấu trúc siêu vi của men: Thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi và sắp xếp dọc theo trụ men, có vùng lại hợp với trụ men một góc 40 o. Thành phần vô cơ là các khối tinh thể to nhỏ không đều dài 1m, rộng 0,04-0,1m. Các tinh thể trong trụ men sắp xếp theo hình xương cá, đôi khi theo hình lốc.

Cấu tạo của các tinh thể là hydroxy apatit, chất giữa trụ men là các tinh thể giả Apatit (thay PO4 = (Ca3, Mg, CO3). Ngà răng Ngà răng là một tổ chức cứng thứ hai sau men răng, chiếm khối lượng chủ yếu ở thân răng. Trong điều kiện bình thường, ngà răng không bị lộ ra ngoài và được bao phủ bởi men răng ở thân răng và xương răng ở chân răng. Ngà răng là tổ chức kém rắn hơn men nhưng chun giãn hơn men.

Nó không giòn và dễ vỡ như men răng, cản quang kém hơn men răng [19]. Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70% và chủ yếu là hydroxyapatit.Còn lại là nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là collagen. Cấu trúc tổ chức học: 2 loại. + Ngà tiên phát: Chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng.

Nó bao gồm ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tome. + Ngà thứ phát: Được sinh ra khi răng đã hình thành. Nó gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt. Hình ảnh vi thể ngà răng [19] Ống ngà: Số lượng từ 15.000/mm2, đường kính 3 - 5m.

Tùy đường kính to hay nhỏ và đường đi của nó người ta chia ra làm 2 loại: + Ống ngà chính: Chạy từ bề mặt tủy theo suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chột ở ranh giới men ngà. + Ống ngà phụ: Đường kính ống nhỏ hơn ống ngà chính. Là những nhánh bên hoặc nhánh tận của ống ngà chính. 7 Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi và được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà.

Dây Tome: Nằm trong ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà. Tủy răng Là tổ chức liên kết nằm trong hốc tủy răng và được thông với tổ chức liên kết quanh cuống răng bởi lỗ cuống răng (Apex). Hình thể của tủy răng tương ứng với hình thể ngoài của răng. Nó bao gồm tủy buồng và tủy chân [19].

Tổ chức học: Chia làm 2 vùng. + Vùng cạnh tủy: Là vùng mà dưới tác dụng cảm ứng của men một lớp tế bào của tổ chức tủy biệt hóa để trở thành lớp tế bào có khả năng tạo ngà gọi là tạo ngà bào. Bên cạnh đó là lớp không có tế bào bao gồm tổ chức sợi đặc biệt là những dây keo. + Vùng giữa tủy: Là tổ chức liên kết có nhiều tế bào và ít tổ chức sợi hơn so với tổ chức liên kết lỏng lẻo thông thường.

Thành phần tế bào bao gồm: Tế bào xơ non, xơ già và tổ chức bào. Thành phần sợi gồm những dây keo, chúng nối với nhau thành một mạng lưới.Ngoài ra trong tổ chức tủy có nhiều máu và bạch huyết. Định nghĩa Là do mô liên kết khoáng hoá tạo thành lớp màng bao bọc mặt ngà chân răng. Đặc điểm chung – Xê măng là thành phần khoáng hoá thấp nhất so với ngà và men răng nhưng vẫn cao hơn xương – Có tính thẩm thấu nên các chất lỏng xâm nhập được – Xê măng cấu tạo gồm 2 thành phần: Sợi và muối khoáng Muối khoáng: gồm Ca, P và Mg Nồng độ Fluor của xê măng cao hơn so với men răng và các mô cứng khác.

8 – Xê măng không có thần kinh và mạch máu. – Bình thường xê măng chỉ bao bọc ngà chân răng, nhưng trong một số trường hợp còn bao phủ men răng nên xê măng được phân loại: Xê măng chân răng và xê măng thân răng Chức năng: Là chỗ bám cho các dây chằng nha chu nối răng vào xương ổ. Đặc điểm mô học *Các tế bào tạo Xê măng (cementoplast) Có 3 loại tế bào tạo xê măng: – Nguyên bào xê măng – Xê măng bào – Nguyên bào sợi. Cả ba loại này đều có nguồn gốc từ tế bào ngoại trung mô.

* Các loại xê măng: Dựa vào sự có hoặc không tế bào hoặc sợi để chia các loại xê măng khác nhau + Xê măng loại không sợi không có tế bào: Nó không có xê măng bào và không có sợi collagen. + Xê măng sợi ngoại sinh không có tế bào (xê măng nguyên phát). Loại này nằm ở vùng cổ răng và vùng giữa chân răng. Phủ trực tiếp lên bề mặt ngoài của ngà trên tất cả các răng.

Đặc biệt chân của các răng cửa. + Lớp xê măng này mỏng và trong suốt ngăn cách rõ rệt với ngà răng, gồm nhiều lớp song song với nhau và với bề mặt chân răng. Điều đó chứng tỏ xê măng được bồi đắp theo chu kỳ, rất chậm nhưng kéo dài cả đời người. + Xê măng sợi hỗn hợp có tế bào: Chứa xê măng bào và cả hai loại sợi ngoại sinh sharpey, nội sinh collagen.

Chúng là sản phẩm chính của nguyên bào xê măng và duy trì tạo xê măng của xê măng bào. Nằm ở chóp chân răng, 1/2 chân răng phía dưới và vùng chia chân răng. Khác với xê măng loại không tế bào, loại có tế bào gồm có các tế bào tạo xê măng lẫn vào trong xê măng sau khi hoàn thành tạo ra nó. 9 Xê măng loại có tế bào cũng được hình thành từng lớp một, nhưng độ khoáng hoá ở các lớp có thể khác nhau.Sự khoáng hoá của xê măng sợi hỗn hợp nhanh hơn xê măng sợi ngoại sinh không có tế bào.

+ Xê măng sợi nội sinh có tế bào: Là sản phẩm đặc hiệu của nguyên bào xê măng. Nó gồm có xê măng bào và các sợi collagen nội sinh không có collagen ngoại sinh. Được tạo thành trong quá trình hàn gắn như: mòn ngót, sửa chữa các nứt gãy chân răng sau chấn thương. * Sợi Sharpey Là phần sợi chính ở hai đầu dính chặt vào xê măng hoặc xương ổ răng.

Sợi Sharpey là phần khoáng hoá của sợi chính nằm bên trong xê măng hoặc xương. Sự khoáng hoá của sợi Sharpey như sau: ngay từ lúc lớp xê măng đầu tiên được thành lập thì đã có những sợi chính bị mắc kẹt vào đấy. Dần dần, có nhiều sợi chính bị mắc kẹt hơn do hoạt động của các tế bào tạo xê măng. Các tế bào này sản xuất ra những sợi collagen làm thành một hệ thống bao quanh các sợi chính.

Tất cả đều nằm trong một chất căn bản là proteoglycan cũng do các tế bào tạo xê măng tổng hợp ra [19]. Sinh lý Xê măng không có quá trình tái tạo chỉ có sự bồi đắp, sự bồi đắp xê măng xảy ra liên tục suốt đời sau khi răng đã mọc chạm răng đối kháng trừ khi có bệnh lý. Trường hợp này góp phần cho quá trình mọc răng liên tục để bù lại sự mất chất của men răng do mòn vì lực nhai. Qua quá trình mọc răng phần chân răng nằm trong xương ổ giảm dần, do đó làm suy yếu sự giữ vững của chân răng.

Để bù đắp hiện tượng này xê măng ở chân răng có sự bồi đắp liên tục ở bề mặt chân, phần lớn là ở vùng chóp răng hoặc vùng chia của răng nhiều chân. Người ta cho rằng sự hư hại hoặc rối loạn trong việc thành lập xê măng là 1 trong những nguyên nhân gây ra túi nha chu và nó không còn giới hạn được sự di chuyển của biểu mô bám dính về phía chóp răng (các nguyên nhân tại chỗ như cao răng, sang chấn, nhồi nhét thức ăn, vệ sinh răng miệng kém, lao, thiếu Vitamin A, D) 10 Sự bồi đắp xê măng ở từng vị trí có liên quan đến tuổi như tuổi càng lớn sự bồi đắp xê măng ở vùng cổ chậm lại trong lúc ấy sự bồi đắp xê măng ở chóp lại tăng lên nhờ thế mà răng mọc, tốc độ bồi đắp chậm lại ở tuổi già [21],[22]. Giải phẫu vùng cổ răng Cổ răng là phần tiếp nối giữa thân răng và chân răng. Đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là ranh giới giữa thân răng và chân răng, đồng thời là ranh giới giữa men và xê măng ở mặt ngoài răng nên còn được gọi là đường nối men-xê măng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tổn thương mòn cổ răng ở người cao tuổi Bình Dương và hiệu quả điều trị bằng GC Fuji II LC Capsule là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào vấn đề mòn cổ răng, một tình trạng phổ biến ở người cao tuổi. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nguyên nhân và đặc điểm của tổn thương mà còn đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị sử dụng vật liệu GC Fuji II LC Capsule. Kết quả cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong việc phục hồi và bảo vệ răng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị nha khoa, bạn có thể tham khảo Luận án đánh giá hiệu quả ghép xương cho bệnh nhân có khe hở cung hàm, nghiên cứu này cung cấp thêm thông tin về kỹ thuật phục hình răng phức tạp. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu quy trình kỹ thuật điều trị phẫu thuật gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay bằng đinh metaizeau cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các phương pháp phẫu thuật liên quan đến xương. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người việt nam trưởng thành sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giải phẫu học, một lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến nha khoa.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.