ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh quanh răng (BQR) nói riêng, các bệnh răng miệng nói chung đã được nghiên cứu từ thời Hyppocrate (460 -372 trước công nguyên). Nhưng những hiểu biết về bệnh còn rất hạn chế trong một thời gian dài, đến cuối thế kỷ 19 một số nhà y học như: Pere đã mô tả BQR nhưng chưa đầy đủ, Fones đã mô tả bệnh BQR một cách đầy đủ cả về lâm sàng và sinh bệnh học. Sau nghiên cứu của Pere và Fones đến nay các nghiên cứu về BQR phát triển rộng khắp thế giới [33]. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đã tìm ra cơ chế bệnh sinh của BQR, kết hợp với việc vệ sinh răng miệng một cách khoa học, đã làm giảm đáng kể BQR nói riêng và bệnh răng miệng nói chung [14], [54].
Bệnh quanh răng, là bệnh phổ biến trên thế giới, ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần của xã hội [36]. Ngay tại Hoa Kỳ, là nước có nền y học rất phát triển, dân trí cao thì tỷ lệ mắc BQR cũng trên 50%, thậm chí tới 90% [52], [66]. Việt Nam và các nước chậm phát triển, do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, điều kiện vệ sinh răng miệng chưa tốt, nhận thức của người dân về BQR còn nhiều hạn chế đã làm cho BQR không những không giảm mà có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của cách sinh hoạt của người dân có nhiều thay đổi. Đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, công tác nha học đường chưa được quan tâm thỏa đáng vì vậy tỷ lệ bệnh về răng miệng, nhất là BQR còn cao[23], [33], [53].
BQR có thể dẫn đến viêm tủy răng, viêm tủy xương hàm, nhiễm trùng huyết và là nguyên nhân chính gây mất răng. Việc chẩn đoán các căn nguyên gây BQR đã có nhiều kỹ thuật chuyên sâu, hiện đại như: Sinh học phân tử, miễn dịch học, kỹ thuật RAPID ID 32A định danh vi khuẩn [10], [15], [59]. 2 Tại Nghệ An nói chung và Quế Phong nói riêng, là một huyện miền núi điều kiện kinh tế còn hết sức khó khăn, đa số người dân là đồng bào dân tộc thiểu số như: Người Thái, người Tày và người Kinh đi xây dựng kinh tế mới. Công tác vệ sinh răng miệng học đường chưa được quan tâm, thiếu thốn mọi nguồn lực cho công tác chăm sóc y tế, cả huyện chỉ có 1 y sỹ chuyên khoa răng hàm mặt.
Kết hợp với nhận thức của người dân về bệnh răng miệng còn kém. Vì vậy, các yếu tố nguy cơ cho bệnh răng miệng phát triển. Nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chất quy mô và đầy đủ về tình trạng BQR trên địa bàn, mức độ ảnh hưởng của bệnh đến cộng đồng ra sao? nhất là ở đối tượng học sinh 12-14 tuổi. Để giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh quanh răng ở học sinh 12 -14 tuổi tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, hiệu quả can thiệp (2016 -2017), nhằm các mục tiêu nghiên cứu sau: 1.
Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh quanh răng ở học sinh 12 - 14 tuổi tại 3 trường trung học cơ sở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An năm 2016. Đánh giá hiệu quả can thiệp giáo dục truyền thông và điều trị các bệnh quanh răng. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Đại cƣơng về bệnh quanh răng 1.
Đặc điểm giải phẫu và tổ chức học vùng quanh răng Cấu trúc giải phẫu quanh răng gồm: Lợi, dây chằng quanh răng. - Lợi: Là niêm mạc được biệt hóa, bám vào cổ răng và chân răng và xương ổ răng. Lợi có 2 loại biểu mô sừng hóa và biểu mô không sừng hóa, có các tổ chức liên kết, rất giàu mạch máu và thần kinh. Bên trong lợi là dịch lợi, bình thường rất ít, khi viêm số lượng dịch tăng, dịch lợi giúp tăng cường miễn dịch tế bào qua hình thức thực bào [33].
- Dây chằng quanh răng: Là những bó sợi liên kết, dày 0,17 - 0,25 mm. Một đầu bám vào xương răng, một đầu bám vào xương ổ răng. Giữa răng trong ổ răng và giữa cho vùng quanh răng đảm bảo sự vững trắc liên kết giữa xương răng và xương ổ răng [33]. Dây chằng quanh răng có thành phần gồm: Các tế bào của dây chằng quanh răng; Sợi liên kết của dây chằng quanh răng.
Chất cơ bản của dây chằng quanh răng (chất nền) có bản chất hóa học là Proteoglycans và glycoprotein giống tổ chức liên kết riêng. Trong vùng kẽ là các tế bào tạo xương răng, tạo cốt bào, hủy cốt bào, đây là các tế bào biểu mô còn sót lại (mallassez) của bao Hertwing. Vùng kẽ còn có hệ thống thần kinh và mạch máu [33]. - Mạch máu: Rất phong phú, được cung cấp từ ba nguồn là: Từ động mạch răng; Các nhánh của động mạch liên xương ổ răng và trên chân răng vào dây chằng quanh răng; Các nhánh của động mạch màng xương đi về phía thân 4 răng qua niêm mạc mặt ngoài và mặt trong của xương ổ răng…tạo hệ thống mạch máu quanh răng [33].
- Mạch bạch huyết: Mạch bạch huyết tạo một mạng lưới dày đặc, nối tiếp với bạch huyết của lợi và các vách xương ổ răng. - Thần kinh: Dây chằng quanh răng chịu sự chi phối của nhóm thần kinh cảm giác và giao cảm. Chức năng đảm bảo liên kết sinh lý bình thường giữa xương ổ răng và răng, truyền lực nhai vào xương hàm, cảm thụ các kích thích thần kinh…[33]. - Xương răng: Là dạng đặc biệt của xương, có nguồn gốc trung mô, nó không có hệ thống Havers và mạch máu.
Xương răng bao phủ ngà chân răng, trong đa số các trường hợp (65%) đi quá phần men răng và phủ trên bề mặt men ở cổ răng. Ở người trưởng thành, các chất ơ bản hữu cơ của xương răng. Phần trên của chân răng, lớp xương răng không có tế bào tạo xương. Phần dưới có chứa tế bào tạo xương, làm cho lớp xương răng dày lên theo tuổi.
Quá trình hoạt động tạo xương răng được điều tiết do các tế bào tạo xương do các gen di truyền trong nhân của tế bào tạo xương [33]. Xương răng có tầm quan trọng đặc biệt về chức năng: Là chỗ bám cho các dây chằng quanh răng, nối răng vào xương ổ răng. Xương răng không có khả năng tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc như xương khác trong cơ thể nhưng nó có thể tiêu hoặc quá sản trong một số trường hợp bất thường hay bệnh lý [33]. - Xương ổ răng: Là phần hình thành huyệt của xương hàm bao bọc quanh chân răng và là mô chống đỡ quan trọng nhất của tổ chức quanh răng.
Xương ổ răng 5 gồm lá xương thành trong ổ răng bao quanh chân răng và bản xương phía ngoài, ở giữa là lá xương xốp chống đỡ [33] bao gồm: + Thành trong xương ổ răng là một lá xương đặc ở bề mặt trong thành xương ổ răng tiếp xúc với vùng dây chằng quanh răng, chụp X- quang là 1 đường cản quang liên tục gọi là Lamina dura hay màng cứng. Màng cứng Lamina dura có nhiều lỗ sàng qua đó mạch máu từ trong xương đi vào vùng quanh răng và ngược lại [33]. Cấu trúc răng và vùng quanh răng [33] + Thành ngoài xương ổ răng là lớp xương vỏ được màng xương che phủ. Cấu trúc lớp xương vỏ giống các xương đặc khác, gồm các hệ thống Havers, độ dày của lớp vỏ thay đổi theo vị trí của răng [33].
6 + Xương xốp nằm giữa các thành xương ổ răng và giữa các lá sàng, bao gồm một mạng lưới bè xương mỏng xen kẽ giữa các khoang tủy mỡ. Vùng lồi củ xương hàm trên và góc xương hàm dưới có tủy tạo máu. Các tế bào chịu trách nhiệm tái cấu trúc: Tạo cốt bào; Tạo tế bào xương non, tế bào xương trưởng thành và hủy cốt bào [33]. + Bình thường thì mào ổ răng nằm dưới cổ răng giải phẫu 0,5 -1 mm, xương ổ răng chịu lực nén thích hợp khi nó được củng cố vững chắc, nếu chịu lực nén quá mức sẽ có hiện tượng tiêu vôi.
Quá trình tiêu và phục hồi luôn cân bằng thì răng luôn chắc và đảm bảo chức năng, nếu mất cân bằng sẽ dẫn đến bệnh lý quanh răng [33]. Khái niệm bệnh quanh răng Bệnh quanh răng là loại bệnh phức tạp, về bệnh lý nó bao gồm 2 hai quá trình viêm và thoái hóa, có tổn thương khu trú ở lợi và tổn thương tổ chức quanh răng (lợi, dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng…), các tổn thương này nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng như: Áp xe quanh răng, viêm tủy ngược dòng, răng lung lay có thể dẫn tới rụng răng, một số trường hợp có thể dẫn đến viêm mô tế bào hay viêm xương hàm biến chứng xa như viêm khớp, viêm nội tâm mạc, có thể ung thư hóa [14], [15], [33]. Nguyên nhân do vệ sinh răng miệng không tốt, không đúng cách. Căn nguyên gây bệnh quanh răng có thể do vi khuẩn ưa khí, vi khuẩn kỵ khí, hoặc vi khuẩn bán kỵ khí, vi nấm phổ biến nhất là Candida nhất là Candida albicans và các căn nguyên vi sinh khác [14], [15], [33].
Hình ảnh bệnh quanh răng [33] 1. Phân loại bệnh quanh răng Việc phân loại BQR có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán , tiên lượng và làm kế hoạch điều trị. Có rất nhiều cách phân loại BQR, nhưng theo các xu hướng chung và các quan điểm hiện đại, người ta chia các BQR ra làm 2 loại chính là các bệnh của lợi và các bệnh của cấu trúc chống đỡ răng: - Các bệnh lợi bao gồm các bệnh chỉ có ở lợi như: Viêm lợi, túi lợi sâu, tụt lợi. - Các bệnh của cấu trúc chống đỡ răng bao gồm các bệnh liên quan tới các cấu trúc chống đỡ răng như giây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng.
Phân loại theo hội nghị quốc tế về các BQR năm 1999. Hội nghị này đưa ra bảng phân loại bao gồm 8 nhóm bệnh dưới đây: Các bệnh lợi như viêm lợi, túi lợi sâu, lợi mất bám; Viêm quanh răng mạn; Viêm quanh răng phá hủy; Viêm quanh răng là biểu lộ của các bệnh toàn thân; Các bệnh viêm quanh răng hoại tử; Các áp xe vùng quanh răng; Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha; Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu bệnh quanh răng 1. Trên Thế giới Năm 1850, Pere đã mô tả BQR.
Năm 1920, Fones đã mô tả bệnh BQR một cách đầy đủ.