CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Định Nghĩa Mổ lấy thai là một phương pháp rạch qua thành bụng và thành tử cung để lấy thai, phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vỡ tử cung khi thai đã nằm trong ổ bụng [19]. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai Theo sử sách của người Ai Cập, MLT đã được đề cập vào những năm 3000 năm trước công nguyên. Khi ấy MLT chỉ được thực hiện trên người mẹ mới chết hoặc đang hấp hối để cứu con.
Năm 1610, Jaremiah Trautmanm (Đức) ủng hộ việc phẫu thuật lấy thai và đã báo cáo 15 trường hợp thành công. [12] Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và ông đã xuất bản một cuốn sách dày 200 trang với tên "Kỹ thuật mổ lấy thai" gọi là kỹ thuật Sanger. [12] Năm 1904, Williams đã xuất bản cuốn sách giáo khoa nổi tiếng về phương pháp phẫu thuật lấy thai chuẩn mực trong thực hành sản khoa. Vào những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ và con.
[12] Vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở Việt Nam MLT lần đầu tiên được áp dụng tại khoa sản bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) là theo phương pháp cổ điển. Sau đó giáo sư Đinh Văn Thắng thực hiện mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai 4 tại bệnh viện Bạch Mai và ngày nay phương pháp này được áp dụng rộng rãi tại các địa phương trong cả nước. Nghiên cứu về mổ lấy thai trên thế giới và ở Việt Nam 1. Nghiên cứu tình hình mổ lấy thai trên thế giới Tỉ lệ MLT ở các nước trên thế giới có xu hướng tăng nhanh, liên quan đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và phương tiện vô cảm cũng như các lý do xã hội khác.
Tỉ lệ MLT cũng khác nhau, dao động tùy từng nghiên cứu và vùng miền. Bảng dưới đây cho thấy tỉ lệ MLT thông qua các nghiên cứu đã công bố trên thế giới: Bảng 1. Tỉ lệ mổ lấy thai trên thế giới Năm Tác giả Địa điểm Tỉ lệ (%) XB Wanyonyi và CS[79] 2006 Nairobi, Ai Cập 38,1% Hsu C. và CS [58] 2007 Đài Loan 33,1% Rebelo F và CS [69] 2010 Brazil 43,9% Mikolajczyk R.
và CS[63] 2013 Đức 29% Azami-Aghdash S. và cs[49] 2014 Iran 48% Quinlan J.D và CS[68] 2015 Canda 26,3% Mylonas và CS [65] 2015 Đức 31,7% Quinlan J.D và CS[68] 2015 Trung Quốc 25,9% Quinlan J.D và CS[68] 2015 Ireland 26,2% Begum T. và CS [51] 2017 Matlab, Bangladesh 35,0% Batieha AM và CS[50] 2017 Jordan 29,1% Nghiên cứu của Hsu C. và cs (2007) tại Đài Loan cho kết quả: tỉ lệ đẻ đường âm đạo sau MLT năm 1998 là 4,7%, năm 1999 là 4,7% và năm 2000 là 4,3%.
Chỉ định MLT chủ yếu là do có tiền sử MLT cũ (dao động 43,3 - 45,5%), tiếp theo là do ngôi thai bất thường (19,6 - 23,4%) [58]. Nghiên cứu của Wanyonyi S. Nghiên cứu của Quinlan J. Nghiên cứu tổng quan của Betrán Ana Pilar và cs (2016) cho tỉ lệ MLT khác nhau giữa các quốc gia và có xu hướng tăng lên.
Tỉ lệ MLT trung bình là 18,6% ở 150 nước nghiên cứu, dao động từ 6 - 27,2% [52]. Nghiên cứu của Begum T. Nghiên cứu về mổ lấy thai ở Việt Nam Tỉ lệ MLT ở Việt Nam cũng đang có xu hướng tăng nhanh. Tỉ lệ MLT ở Việt Nam sau năm 2000 thông qua một số nghiên cứu: Bảng 1.
Một số nghiên cứu mổ lấy thai ở Việt Nam Năm Địa điểm nghiên Tác giả Tỉ lệ (%) XB cứu Phạm Bá Nha [32] 2009 Bệnh viện Bạch Mai 36,7 Đặng Thị Hà [15] 2010 Bệnh viện Trường Đại học Y 43,2 Dược Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Bình [2] 2013 Bệnh viện Trung ương Thái 46,3 Nguyên Ninh Văn Minh [30] 2013 Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình 23,1 Nguyễn Thị Hiền[18] 2016 Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 41,1 Lê Hoài Chương[11] 2017 Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 54,4 Vũ Trọng Tấn [38] 2018 Bệnh Viện Sản Nhi Bắc Ninh 46,4 Phạm Thị Bé Lan[26] 2018 Bệnh Viện Trà Vinh 53,6 6 Bảng 1. Tỷ lệ mổ lấy thai con so tại Việt Nam Tỷ lệ Năm Tác giả Địa điểm nghiên cứu (%) 2013 Ninh Văn Minh [30] Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình 51,94 2014 Nguyễn Thị Lan Hương [23] Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 42,9 2015 Nguyễn Thị Kim Tiến [44] BVTƯTN 51,4 2016 Thân Thị Thắng [41] Bệnh Viện Sản Nhi Bắc Giang 27 2017 Phùng Ngọc Hân [17] Bệnh Viện Đại học Y Dược Huế 58,8 2018 Nguyễn Thị Anh [1] BVTƯTN 58,2 2018 Võ Thị Thu Hà [16] Bệnh Viện Tiền Giang 39,6 2019 Vi Thị Nho [33] Bệnh Viện Quan Hóa 58,6 Nghiên cứu của Phạm Bá Nha (2009) về chỉ định MLT tại khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai thấy: Tỉ lệ MLT là 36,7%. Tỉ lệ mổ ở thai phụ con so là 52,1%. Nhóm chỉ định MLT do đường sinh dục: Tỉ lệ mổ cao nhất trong nhóm là do sẹo mổ cũ ở tử cung 66,7%; do dọa vỡ tử cung và cơn co tử cung cường tính là 13,2%; do cổ tử cung không tiến triển là 12,3%.
Nhóm chỉ định MLT do bệnh của người mẹ: Tỉ lệ mổ do tiền sản giật, sản giật cao nhất, chiếm 50,3%; do bệnh tim mạch 19,7%; do tiểu đường và Basedow là 15%. Nhóm chỉ định MLT do thai nhi: Tỉ lệ MLT do thai suy 28,8%; do thai to 28,6%; do ngôi mông 18,2%. Nhóm chỉ định MLT do phần phụ của thai: Tỉ lệ mổ do ối vỡ non, ối vỡ sớm cao nhất 77,2%; do cạn ối 14,6%. Nhóm nguyên nhân khác: con so lớn tuổi 42,3%; do tiền sử sản khoa nặng nề 33,1% và do vô sinh 16,1% [32].
Nghiên cứu của Đặng Thị Hà (2010) tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2 cho kết quả: trong số 3018 sản phụ vào viện trong thời gian nghiên cứu có 1303 sản phụ được chỉ định MLT, chiếm 43,2%. Trong các chỉ định MLT, chỉ định MLT chủ động chiếm 36,5%, MLT cấp cứu là 63,5%. Chỉ định MLT cấp cứu (tổng 828 trường hợp): do suy thai chiếm 4,2%, 7 bất xứng đầu chậu chiếm 26,6%, gây chuyển dạ thất bại 52,4%, vết mổ cũ đau 16,3%, sa dây rốn 0,5%. Chỉ định MLT chủ động (tổng 475 trường hợp): do thai to 13,3%, ngôi bất thường 7,9%, vết mổ cũ 50,0%, thiểu ối 9,8%, khung chậu hẹp 10,9%, con so lớn tuổi/con quí 8,1% [15].
Nghiên cứu của Bùi Quang Trung (2010) về MLT con so 6 tháng cuối năm 2004 và 2009 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương thấy: Chỉ định MLT con so 6 tháng cuối năm 2004: do đường sinh dục 144 trường hợp (10,9%), do thai 924 trường hợp (69,8%), do phần phụ của thai 563 trường hợp (42,6%), do bệnh của mẹ 127 trường hợp (9,6%) và do nguyên nhân xã hội 141 trường hợp (10,7%). Chỉ định MLT con so 6 tháng cuối năm 2009: do đường sinh dục 143 trường hợp (8,0%), do thai 1252 trường hợp (70,0%), do phần phụ của thai 645 trường hợp (36,1%), do bệnh của mẹ 227 trường hợp (12,7%) và do nguyên nhân xã hội 224 trường hợp (12,5%). Tỉ lệ MLT 6 tháng cuối năm 2004 có 01 chỉ định là 52,5% (695 trường hợp) và nhiều chỉ định là 47,5%. Tỉ lệ MLT 6 tháng cuối năm 2009 có 01 chỉ định là 58,2% (1040 trường hợp) và nhiều chỉ định là 41,8% [46].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình (2013) về MLT tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên thấy: tỉ lệ MLT tại khoa sản bệnh viện năm 2002 là 25,6% và năm 2012 là 46,3%. Như vậy, sau 10 năm (kể từ năm 2002) tỉ lệ MLT tăng rõ rệt, gần gấp 2 lần [1]. Kết quả nghiên cứu MLT 6 tháng đầu năm 2012 như sau: MLT trong ngôi chỏm 89,7%, thai đủ tháng 90,5%. Trọng lượng sơ sinh từ 2.800 gram trở lên chiếm 82,9%.
Tỉ lệ MLT là 45,1%. MLT trên sẹo cũ là 26,7%. Chỉ định vì 1 yếu tố đẻ khó là 63,4%, chuyển dạ chiếm 96,4%. Mổ đường ngang trên vệ là 84,3%, ngang đoạn dưới chiếm 98,4%.
Khâu tử cung 1 lớp là 88,38%. Phủ phúc mạc đoạn dưới 97,1%. Thời gian mổ từ 40 - 60 phút chiếm 81,5%. Tai biến MLT phía mẹ là 0,2%, phía con là 0,4%.
Phương pháp vô cảm gây tê tủy sống chiếm 96,5% [3]. 8 Nghiên cứu của Ninh Văn Minh (2013) tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình cho kết quả: Tỉ lệ MLT/ tổng số đẻ năm 2012 là 23,1%, tỉ lệ mổ con so 51,94%. Các chỉ định về phía mẹ 31,49% (sẹo mổ cũ 54,6%, CTC không tiến triển 21,32%, bệnh toàn thân 18,46%), về phía thai 44,08% (ngôi không lọt 51,1%, thai quá ngày sinh 3,38%, suy thai 18,76%, ngôi bất thường 24,88%), về phía phần phụ của thai 14,81% (rau tiền đạo 15,89%, ối vỡ non, sớm 61,92% ối giảm, hết 18%) nguyên nhân khác 9,62% [30]. Nghiên cứu của Thân Thị Thắng (2016) về MLT ở sản phụ con so tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang cho kết quả: Tỷ lệ MLT con so 6 tháng đầu năm 2016 là 27%, chỉ định MLT do nguyên nhân về phía thai chiếm tỉ lệ 33%, do phần phụ của thai 50,8 %, do đường sinh dục 7,6%, do bệnh lý của mẹ 5,4 [41].
Nghiên cứu của Vi Thị Nho (2019) tại Bệnh viện Quan Hóa 6 tháng năm 2016 có 123/210 ca MLT chiếm tỷ lệ 58,6%, tăng so với các năm trước. MLT nguyên nhân do đường sinh dục 42,3%. MLT nguyên nhân do bệnh lý của mẹ 9,8%. MLT nguyên nhân do thai 41,5%.
MLT nguyên nhân do phần phụ của thai 4,1%. MLT nguyên nhân do yếu tố xã hội 2,4% [33]. Giải phẫu của tử cung liên quan đến mổ lấy thai 1. Giải phẫu tử cung khi chưa có thai Tử cung còn gọi là dạ con, nơi hàng tháng sinh ra kinh nguyệt và là nơi nương náu, phát triển của thai nhi [22].
* Vị trí và chiều hướng - Tử cung nằm chính giữa chậu hông bé, sau bàng quang, trước trực tràng, trên âm đạo và dưới các quai ruột. - Hướng của tử cung: Bình thường tử cung nằm ngả và gấp ra trước. Thân tử cung gấp với cổ tử cung 1 góc 120 độ, thân tử cung hợp với âm đạo 1 góc 90 độ. Trong 1 số truờng hợp tử cung có thể lật ra sau hoặc sang bên [9].
9 * Hình thể ngoài và kích thước [9] Tử cung giống hình nón cụt, dẹt và rộng ở trên, tròn và hẹp ở dưới. Gồm 3 phần: - Thân tử cung: Rộng ở trên gọi là đáy tử cung, có 2 sừng liên tiếp với 2 vòi trứng.