mở đầu cho những ứng dụng tiếp theo của nhóm vitamin này trong đời sống [28], [45], [100]. Nguồn cung cấp và nhu cầu vitamin D của cơ thể Nguồn cung cấp vitamin D của cơ thể Quá trình tổng hợp vitamin D ở da là nguồn cung cấp từ 90- 95% lượng vitamin D cho cơ thể. Vitamin D qua quá trình tổng hợp này sẽ được hấp thu trực tiếp vào máu. Quá trình tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sắc tố da, người có làn da sẫm màu khi ra ánh nắng sẽ tổng hợp được ít vitamin D hơn so với người có làn da sáng màu; vùng thượng bì, nơi quá trình tổng hợp được thực hiện; chiều dài của bước sóng và số lượng tia cực tím mà da nhận 6 được; nhiệt độ của da, thông thường quá trình biến đổi xảy ra thuận lợi ở nhiệt độ 36,5oC- 37oC.
Quá trình tổng hợp vitamin D cũng chịu tác động của chế độ ăn uống, nếu chế độ ăn thiếu hụt canxi, sẽ làm tăng quá trình dị hóa vitamin D, nên đòi hỏi cơ thể phải tăng quá trình tổng hợp, tránh cho quá trình thiếu hụt vitamin D của cơ thể. Ngoài ra, quá trình tổng hợp vitamin D cũng có sự khác biệt theo nhóm tuổi, khi tăng lên ở ở trẻ em và phụ nữ có thai, trong khi đó lại giảm từ 2- 4 lần ở nhóm người cao tuổi [56], [81], [124]. Một số nghiên cứu còn cho thấy yếu tố mùa cũng đóng một vai trò quan trọng. Vào mùa hè khi cơ thể ở ngoài nắng từ 10- 30 phút hoặc thấy da chuyển màu sẫm hơn là lúc đó đã tổng hợp được trung bình 500µg vitamin D (dao động từ 250- 1250µg vitamin D) [56], [124].
Bên cạnh việc tổng hợp ở da, 5- 10% lượng vitamin D được cơ thể hấp thu từ thực phẩm qua bữa ăn hàng ngày. Thực phẩm chứa rất ít vitamin D. Vitamin D có nguồn gốc động vật chủ yếu từ các loại cá giàu chất dầu như cá hồi, cá tuyết, cá thu, hay cá trích do ở các loài cá này vitamin D được tích tụ trong quá trình ăn những thức ăn có nguồn gốc vi tảo. Trong thực vật, vitamin D có nhiều trong các loại nấm, đặc biệt khi nấm được phơi khô.
Ngoài ra vitamin D cũng được tìm thấy trong các loại tảo. Vi tảo có thể chứa cả vitamin D3 và tiền vitamin D3. Những thực phẩm như cá, nấm hay tảo nói trên có thể cung cấp khoảng 10- 12,5µg vitamin D tùy vào liều lượng ăn uống [88], [124]. Nhu cầu dinh dưỡng vitamin D Liều lượng vitamin D được khuyến cáo phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, nhiệt độ, khí hậu và điều kiện hấp thụ canxi và photpho trong cơ thể.
7 Tuy nhiên, theo bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị chung cho người Việt Nam được ban hành kèm theo quyết định số 2615/QĐ- BYT ngày 16 tháng 6 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế, trẻ từ 0- 11 tháng tuổi cần 10µg/ ngày. Trẻ từ 1- 19 tuổi sẽ cần bổ sung 15µg/ ngày. Trong khi đó đối với thanh niên và người trưởng thành từ 20- 49 tuổi sẽ cần 15µg/ ngày. Riêng với phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và người già từ 50 tuổi trở lên sẽ có nhu cầu bổ sung vitamin D cao hơn, 20µg/ ngày [20].
Dạng hoạt động và vai trò của vitamin D trong cơ thể Dạng hoạt động của vitamin D Vitamin D2 được tích lũy trong da, dưới tác động của ánh sáng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D3. Vitamin D3 hoạt động mạnh hơn vitamin D2 với tỉ lệ 4:3. Một phần nhỏ vitamin D3 (cholescalciferol) được dự trữ trong cơ, mô mỡ, còn phần lớn được vận chuyển tới gan và thận. Tại gan, vitaminD3 bị Hình 1.
Quá trình chuyển hóa Vitamin D3 hydroxyl hóa ở vị trí thứ 25 tạo ra 25- hydroxylcholescalciferol (calcidiol). Tại thận (Nguồn: Dussco và cộng sự, 2005)[56] vitamin D3 bị hydroxyl hóa ở vị trí thứ 1, đồng thời kết hợp với calcidiol tạo thành 1,25dehydro cholescalciferol 8 (calcitriol) (Hình 1. Đây là dạng vitamin D hoạt động mạnh nhất trong cơ thể con người [80], [100]. Vai trò của vitamin D trong cơ thể Ở dạng hoạt động mạnh nhất, vitamin D góp phần tạo điều kiện cho ruột hấp thụ canxi và photpho, chuyển canxi vào xương và kích thích tái hấp thụ photpho ở ống thận, duy trì cân bằng P/Ca++ nội môi.
Sự thay đổi trong hàm lượng vitamin D trong cơ thể sẽ dẫn đên sự thay đổi nồng độ canxi và photpho trong máu [51], [100]. Vitamin D đóng vai trò chủ đạo trong quá trình cốt hóa xương, răng bằng cách tăng khả năng hấp thu và cố định canxi và photpho [100]. Ngoài ra, nhiều mô chứa các bộ phận thụ cảm với vitamin D cũng tham gia vào quá trình chuyển hóa đó là quá trình tập trung canxi trong sữa và tuyến sữa, vận chuyển Ca về phía phôi thai qua nhau thai; sự biệt hóa bạch cầu cần thiết đáp ứng miễn dịch, tổng hợp interferol là một tác nhân chống lại vi rút; tại cơ trong cơ chế co cơ, hay bệnh lý về cơ hay tại thành mạch trong cơ chế giảm huyết áp, huy động Ca++ nội bào. Bên cạnh đó, vitamin D còn tham gia một số chức năng bài tiết của insulin, hormon tuyến cận giáp [100].
Ở một vài phần của não có những bộ phận thụ cảm với sự chuyển hóa vitamin D, tuy nhiên cho đến nay vai trò vẫn chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu sâu hơn sau này [80], [100]. Vitamin D và nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp Giảm nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp Nhiều nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về vai trò của vitamin D trong phòng ngừa hoặc làm giảm nguy cơ viêm đường hô hấp ở những nhóm tuổi khác nhau. Đối với nhóm trẻ em, viêm đường hô hấp nói chung và viêm phổi nói riêng là một trong các bệnh khá thường gặp, đặc biệt là tại các nước đang phát triển [154]. Một số nghiên cứu cho thấy những trẻ được bú mẹ đầy 9 đủ hoặc được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thường xuyên hay bổ sung vitamin D hợp lý có thể giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm đường hô hấp [33], [42], [86], [97], [175].
Trên cơ sở quan sát thấy những đứa trẻ bị thiếu vitamin D, còi xương có xu hướng mắc viêm đường hô hấp nặng hơn, nghiên cứu của bệnh viện đa khoa Massachusetts (Mỹ) đã được tiến hành nhằm tìm ra mối liên quan giữa liều lượng vitamin D và bệnh viêm đường hô hấp ở trẻ nhỏ. Kết quả ghi nhận trẻ không còi xương, và không ở tình trạng thiếu hụt vitamin D giảm đáng kể nguy cơ viêm đường hô hấp, đặc biệt vào mùa đông so với trẻ có lượng vitamin D thấp hơn bình thường hoặc đang ở tình trạng còi xương. Do đó các tác giả đã khuyên các bà mẹ đang nuôi con và cho con bú nên cho trẻ bú mẹ đủ và uống sữa đều đặn để bổ sung vitamin D một cách tự nhiên nhằm tránh viêm đường hô hấp ở trẻ nhỏ [63]. Gần đây một bằng chứng khác từ nghiên cứu của đại học y khoa Colorado Anschutz, Mỹ cho thấy việc bổ sung vitamin D3 liều cao hàng tháng giúp giảm tỷ lệ mắc viêm đường hô hấp cấp ở những trẻ bệnh cần chăm sóc trong thời gian dài [62].
Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em cũng đưa ra những kết quả về hiệu quả của vitamin D trong giảm nguy cơ mắc viêm đường hô hấp ở trẻ em nói chung [55], [65], [68], [91], [106], [107], [116], [125], [156]. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi có đối chứng được thực hiện trên 744 trẻ em ở Mông Cổ cho thấy việc cho trẻ uống sữa hàng ngày ở nhóm theo dõi đã khiến hàm lượng vitamin D trong máu ở nhóm này có sự khác biệt đáng kể so với nhóm chứng (7 ng/mL so với 19 ng/mL; p< 001) với mức khởi điểm ban đầu ở hai nhóm đều là 7 ng/mL. Trong thời gian theo dõi, tỷ lệ trẻ viêm đường hô hấp cấp ở nhóm được bổ sung sữa ghi nhận thấp hơn so với nhóm trẻ chứng (Trung bình là: 0,45 so với 0,8; p= 0,047) (RR= 0,52 (95% CI: 0,31- 0,89). Khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới 10 tính, và tiền sử có thở khò khè, nhóm được bổ sung vitamin D có nguy cơ mắc viêm đường hô hấp giảm một nửa so với nhóm chứng (RR= 0,50 [95%CI: 0,28- 0,88]).
Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở những nhóm trẻ có hàm lượng vitamin D trong máu trên hoặc dưới mức trung bình. Như vậy có thể thấy việc bổ sung Vitamin D đã làm giảm đáng kể nguy cơ mắc viêm đường hô hấp ở trẻ em Mông Cổ đang trong tình trạng thiếu hụt vitamin D, đặc biệt là trong mùa đông [36]. Một nghiên cứu trên 600 học sinh cũng cho thấy vitamin D3 là một giải pháp can thiệp đầy hứa hẹn cho hoạt động phòng chống viêm đường hô hấp trên ở trẻ em [64]. Đối với nhóm tuổi lớn hơn, một vài nghiên cứu phân tích tổng hợp cũng đưa ra những bằng chứng tương tự.
Tác giả Charan và cộng sự năm 2012 sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp 5 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp thấp hơn đáng kể ở nhóm sử dụng vitamin D so với nhóm chứng [OR= 0,582 (0,417- 0,812) p= 0,001] theo mô hình ngẫu nhiên. Kết quả tương tự khi phân tích trong mô hình cố định. Khi phân tích riêng biệt từng nghiên cứu lâm sàng đối với nhóm trẻ em và người lớn, tác động có lợi của vitamin D cũng được quan sát thấy ở cả hai nhóm phân tích theo mô hình cố định [OR= 0,579 (0,416- 0,805), p= 0,001 và OR= 0,653 (0,472- 0,9040), p= 0,010, tương ứng]. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận việc bổ sung Vitamin D đã làm giảm các bệnh viêm đường hô hấp ở các nhóm tuổi khác nhau tuy nhiên cần có những nghiên cứu tiếp theo để cung cấp các bằng chứng mạnh hơn [42].
Sử dụng phương pháp tương tự, tác giả Bergman và cộng sự trong năm 2013 đã tiến hành phân tích tổng hợp 1137 trích dẫn, 11 nghiên cứu bệnh chứng của 5660 bệnh nhân để đưa ra những bằng chứng về mối liên quan giữa vitamin D và bệnh viêm đường hô hấp cấp. Kết quả phân tích đã ghi nhận vitamin D có tác dụng bảo vệ chống lại viêm đường hô hấp (OR= 0,64; 95% CI, 0,49- 0,84). Có khác biệt đáng kể giữa các 11 nghiên cứu (Cohran’ Q p< 0,0001, I(2)= 72%). Tác dụng bảo vệ lớn hơn trong các nghiên cứu sử dụng liều mỗi ngày một lần so với cách kê liều khác (OR= 0,51 vs OR= 0,86, p= 0,01) [33].